Có những địa danh, những sự kiện, những nhân vật nhờ thơ mà nhiều người biết đến, tiếng thơm lưu truyền như những huyền thoại. Tôi muốn nhắc đến Mẹ Tơm. Đây là cách gọi theo nhà thơ Tố Hữu gọi bà Nguyễn Thị Quyển ở làng Hanh Cù, xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Trong những năm tháng hoạt động bí mật gian lao Tố Hữu đã được bà nuôi nấng che chở. Nhà thơ nhận bà là mẹ nuôi. Cách gọi riêng của nhà thơ đã thành cách gọi chung của toàn xã hội, và mới đây khi tỉnh Thanh Hóa công nhận di tích lịch sử cũng gọi đó là nhà của Mẹ Tơm. Như vậy là lịch sử đi vào thơ và sau rồi thơ lại đi vào lịch sử!
Trong cuốn “Niên biểu lịch sử Thanh Hóa” do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa” xuất bản năm 1988 có ghi: Năm 1942, cuối tháng 7, đồng chí Tố Hữu vượt trại tập trung Đắc Lây về Thanh Hóa hoạt động. Đầu tháng 8, báo “Đuổi giặc nước” cơ quan tuyên truyền của tỉnh ủy Thanh Hóa ra số đầu tiên.
Năm 1943: Tháng 2 hội nghị Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định bổ sung đồng chí Tố Hữu vào Ban chấp hành và trực tiếp phụ trách phong trào huyện Hoằng Hóa. Tháng 3, cơ sở in báo “Đuổi giặc nước” chuyển về nhà mẹ Tơm (Hanh Cù - Hậu Lộc). Ngày 20 tháng 7, báo “Đuổi giặc nước” ra số đầu tiên tại Hậu Lộc.
Năm 1944: Tháng 2, Hội nghị tỉnh ủy cử đồng chí Tố Hữu làm Bí thư. Ngày 16/4 , lính địch bao vây khám xét nhà mẹ Tơm.
Về sự kiện này, cuốn “Những sự kiện lịch sử Đảng bộ Thanh hóa” do Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thanh Hóa xuất bản 1978 cho biết: Từ trung tuần tháng 4 năm 1944 chính quyền thực dân bắt đầu cuộc khủng bố ở làng Thượng (Nga Sơn)… Bị thất bại ở Nga Sơn, ngày 16 tháng 4, chúng lại hùng hổ đưa binh lính tới bao vậy và khám xét nhà mẹ Tơm ở Hanh Cù. Đây là một cơ sở cách mạng và cũng là nơi đóng cơ quan in li tô của ta. Chúng đánh đập dã man mẹ Tơm (lúc này đã 64 tuổi!) và những người trong nhà nhưng cũng không moi tìm được một tài liệu, một dụng cụ in và một tin tức gì. Chúng đã băt người con của mẹ Tơm đem đi giam giữ.
Sang năm 1945, ngày 24 tháng 6 (trước Tổng khởi nghĩa gần 3 tháng), Hội nghị đảng bộ tỉnh, bầu BCH, đồng chí Tố Hữu tiếp tục làm Bí thư. Sau đó Tố Hữu được Trung ương điều động phụ trách khởi nghĩa ở Huế như ta đã biết.
Chúng tôi muốn điểm qua những dấu mốc Tố Hữu hoạt động ở Thanh Hóa để bạn đọc hiểu được bề dày lịch sử và cảm xúc của bài thơ Mẹ Tơm, bài thơ được tác giả viết vào tháng 7 năm 1961, trong chuyến về Thanh.
Về bài thơ, tác giả tâm sự: “Sau 19 năm đi xa, tôi (Tố Hữu) lại về Hanh Cù, Hanh Cát –làng ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa – nơi ngày xưa có bà mẹ Tơm rất nghèo đã nuôi giấu chúng tôi, mấy anh em trốn tù về hoạt động. Mẹ Tơm có hai người con trai đều là đảng viên cộng sản, ngày ngày đi cúp tóc để nuôi nhà và nuôi đồng chí; về sau cả hai đều bị bắt và tra tấn, nhưng đều một mực không khai cơ quan và cán bộ Đảng”
Bài thơ vừa mới ra đời, đi luôn vào sách giáo khoa, in hằn lên trí nhớ của các thế hệ học trò về một bà mẹ anh hùng, một miền quê anh hùng.
Năm 1986 Tố Hữu lại về Thanh Hóa. Ông viết một loạt thơ về quê hương thứ hai của mình. Tính ra Tố Hữu đã viết đến 14 bài thơ riêng về Thanh Hóa, trong đó có 2 bài viết liên quan đến mẹ Tơm: Bài “Mẹ Tơm” (1961) mà ai cũng biết và bài “Hậu Lộc” (1986).
Điều đáng nói là ngôi nhà của mẹ Tơm đã được công nhận là di tích lịch sử. Nhưng đó là ngôi nhà nào vậy? Thực ra cái nơi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy, Không sợ tù gông, chấp súng gươm xứng đáng là di tích lịch sử không phải là nhà, mà như nhà thơ gọi, là mái lều. Trong bài Mẹ Tơm, tác giả đã hai lần nhắc đến mái lều này:
Nhớ lều rơm ướt sương khuya sớm
Bãi vắng đìu hiu lạc dấu đường...
Và:
Đầu thôn, cồn vắng, túp lều rơm;
Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm
Nhưng cái lều, cái nhà ấy vào năm 1961, trước khi Tố Hữu quay lại đã bị bão dập, con cháu mẹ Tơm mới dựng lại. Cho nên Tố hữu mới “Ngơ ngác trông quanh, lạ mấy lần”:
Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong ?
Song cái nhà “tường vôi trắng” Tố Hữu tả trên đây đến nay cũng không còn. Bởi vì năm 1986 một ngôi nhà khác đã mọc lên – một ngôi nhà mái bằng như ta thấy ngày nay. Nhìn ngôi nhà mới, tác giả so sánh:
Ngày xưa mái ra, phên tre
Mà nay nhà bạn bốn bề gạch xây
Ngôi nhà mới bằng gạch, khang trang, vững chãi chứng tỏ cuộc sống no đủ đi lên, “biển đau xưa rút nước xa rồi”. Mừng lắm. Mừng cho cuộc sống. Nhưng về di tích thì tôi cứ băn khoăn. Cái nhà mái bằng ấy là di tích lịch sử ư? Lại còn tên đất tên làng nữa.
Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó
Có nhiều không con nục con thu ?
Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!
Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù ?
Hanh Cát, Hanh Cù những cái tên đã đi vào lịch sử, vào thơ ca, đã neo đậu trong tình yêu, cảm xúc của nhiều thế hệ. Nhưng bây giờ đã gọi là thôn Đông Thành, Ninh Phú... xa lạ rồi!
Giá như dựng lại được mái lều xưa, khung cảnh xưa, lấy lại những cái tên xưa, cho xứng với một di tích lịch sử!
Đ.A
Tố Hữu
Mẹ Tơm
Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát...
Mười chín năm rồi. Hôm nay lại bước
Đoạn đường xưa, cát bỏng lưng đồi.
Ôi có phải sóng bồi thêm bãi trước
Hay biển đau xưa rút nước xa rồi ?
Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó
Có nhiều không con nục con thu ?
Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!
Nhớ nhau chăng, hỗi Hanh Cát, Hanh Cù ?
Tôi lại về đây, hỡi các anh
Hỡi rừng sa mộc, khóm dừa xanh
Hỡi đồi cát trắng rung rinh nắng
Hỡi những vườn dưa đỏ ngọt lành!
Như đứa con đi, biệt xóm làng
Nửa đời bỗng nhớ bóng quê hương
Nhớ lều rơm ướt sương khuya sớm
Bãi vắng đìu hiu lạc dấu đường...
Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm
Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong ?
Ngơ ngác trông quanh, lạ mấy lần
Hỏi thăm cô gái má bồ quân
Mái đầu tóc xõa xanh bên giếng
- Vâng đúng nhà em, bác nghỉ chân
- Ô kìa, cô bé nói hay sao!
Nhà của tôi, ai lại hỏi chào
Như thể khách đường xa gác lại
Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nào?
Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
- Hai mươi
- Ờ nhỉ, tháng năm trôi
Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến
Gió lộng đường khơi, rộng đất trời!
- Ông mất năm nao, ngày độc lập
Buồm cao đỏ sóng bóng cờ sao
Bà "về" năm đói, làng treo lưới
Biển động: Hòn Mê, giặc bắn vào...
Bâng khuâng chuyện cũ: Một chiều thu
Mười chín năm xưa, mấy bạn tù
Vượt ngục, băng rừng, tìm mối Đảng
Duyên may, dây nối, đất Hanh Cù.
Đầu thôn, cồn vắng, túp lều rơm;
Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm
Hai đứa trai ngày đi cúp dạo
Nồi khoai sớm tối lót thay cơm.
Thương người cộng sản, căm Tây - Nhật
Buồng Mẹ - buồng tim - giấu chúng con
Đêm đêm chó sủa... Làng bên động ?
Bóng Mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn...
Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh
Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh
Bãi cát vàng thau in bóng Mẹ
Chiều về... Hòn Nẹ... Biển reo quanh...
Sóng hãy gầm lên, gió thét lên!
Triều dâng. Chèo mạnh, thuyền ơi thuyền!
Vui chăng, hỡi Mẹ, đời vui đó:
Cờ đỏ ta lay động mọi miền!
Nhưng một đêm mưa, ướt bãi cồn
Lính về, lính trói cả hai con
Máu con đỏ cát đường thôn lạnh
Bóng mẹ ngồi trông, vọng nước non!
Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi
Tròn đôi nắm đất trắng chân đồi.
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời!
Đốt nén hương thơm, mát dạ Người
Hãy về vui chút mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi...
7/1961
Hậu Lộc
Ghé thăm Hậu Lộc, chợ Dầu
Rẽ quaHanh Cát, Hanh Cù làng xưa
Rừng phi lao dịu nắng trưa
Xõa xanh mái tóc, hàng dừa đưa duyên
Biển vui sóng giỡn mạn thuyền
Mát chân lối cát, chẳng quên ngõ về
Ngày xưa mái ra, phên tre
Mà nay nhà bạn bốn bề gạch xây
Vườn xưa, dứa dại, gai mây
Mà nay na mit chín cây trĩu cành
Cháu con ríu rít vây quanh
Nhìn ông khách lạ…Chú Lành khác đâu?
Bạn rằng: Dù bạc mái đầu
Thủy chung nghĩa nặng tình sâu vẫn là…
Ôm hôn hai má bạn già
Ra về ấm mãi lòng ta với đời.
23/10/1986