Văn học tuổi 20 lần thứ IV: Trẻ mà chín ; Kỷ niệm 65 năm Quốc khánh 2-9 ; Vu Lan: ngày Hòa giải và Yêu thương ; HỘI NHÀ VĂN TP. HỒ CHÍ MINH TỔ CHỨC HỘI THẢO VỚI CHỦ ĐỀ "CA LÊ HIẾN - LÊ ANH XUÂN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP" ; Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi tìm tòi, sáng tạo, mọi phong cách và bút pháp; tôn trọng tự do sáng tạo nghệ thuật đi đôi với đề cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhà văn
Từ khóa:       Thứ hai, 06.09.2010, 07:28pm (GMT+7)
Nhà văn với đời sống
 
Xin giữ lại lều xưa, tên cũ
Thứ ba, 23.02.2010, 03:49pm (GMT+7)

    Có những địa danh, những sự kiện, những nhân vật nhờ thơ mà nhiều người biết đến, tiếng thơm lưu truyền như những huyền thoại. Tôi muốn nhắc đến Mẹ Tơm. Đây là cách gọi theo nhà thơ Tố Hữu gọi bà Nguyễn Thị Quyển ở làng Hanh Cù, xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Trong những năm tháng hoạt động bí mật gian lao Tố Hữu đã được bà nuôi nấng che chở. Nhà thơ nhận bà là mẹ nuôi. Cách gọi riêng của nhà thơ đã thành cách gọi chung của toàn xã hội, và mới đây khi tỉnh Thanh Hóa công nhận di tích lịch sử cũng gọi đó là nhà của Mẹ Tơm. Như vậy là lịch sử đi vào thơ và sau rồi thơ lại đi vào lịch sử!

   Trong cuốn “Niên biểu lịch sử Thanh Hóa” do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa” xuất bản năm 1988 có ghi: Năm 1942, cuối tháng 7, đồng chí Tố Hữu vượt trại tập trung Đắc Lây về Thanh Hóa hoạt động. Đầu tháng 8, báo “Đuổi giặc nước” cơ quan tuyên truyền của tỉnh ủy Thanh Hóa ra số đầu tiên.

Năm 1943: Tháng 2 hội nghị Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định bổ sung đồng chí Tố Hữu vào Ban chấp hành và trực tiếp phụ trách phong trào huyện Hoằng Hóa. Tháng 3, cơ sở in báo “Đuổi giặc nước” chuyển về nhà mẹ Tơm (Hanh Cù - Hậu Lộc). Ngày 20 tháng 7, báo “Đuổi giặc nước” ra số đầu tiên tại Hậu Lộc.

Năm 1944: Tháng 2, Hội nghị tỉnh ủy cử đồng chí Tố Hữu làm Bí thư. Ngày 16/4 , lính địch bao vây khám xét nhà mẹ Tơm.

Về sự kiện này, cuốn “Những sự kiện lịch sử Đảng bộ Thanh hóa” do Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thanh Hóa xuất bản 1978 cho biết: Từ trung tuần tháng 4 năm 1944 chính quyền thực dân bắt đầu cuộc khủng bố ở làng Thượng (Nga Sơn)… Bị thất bại ở Nga Sơn, ngày 16 tháng 4, chúng lại hùng hổ đưa binh lính tới bao vậy và khám xét nhà mẹ Tơm ở Hanh Cù. Đây là một cơ sở cách mạng và cũng là nơi đóng cơ quan in li tô của ta. Chúng đánh đập dã man mẹ Tơm (lúc này đã 64 tuổi!) và những người trong nhà nhưng cũng không moi tìm được một tài liệu, một dụng cụ in và một tin tức gì. Chúng đã băt người con của mẹ Tơm đem đi giam giữ.

Sang năm 1945, ngày 24 tháng 6 (trước Tổng khởi nghĩa gần 3 tháng), Hội nghị đảng bộ tỉnh, bầu BCH, đồng chí Tố Hữu tiếp tục làm Bí thư. Sau đó Tố Hữu được Trung ương điều động phụ trách khởi nghĩa ở Huế như ta đã biết.

Chúng tôi muốn điểm qua những dấu mốc Tố Hữu hoạt động ở Thanh Hóa để bạn đọc hiểu được bề dày lịch sử và cảm xúc của bài thơ Mẹ Tơm, bài thơ được tác giả viết vào tháng 7 năm 1961, trong chuyến về Thanh. 

Về bài thơ, tác giả tâm sự: “Sau 19 năm đi xa, tôi (Tố Hữu) lại về Hanh Cù, Hanh Cát –làng ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa – nơi ngày xưa có bà mẹ Tơm rất nghèo đã nuôi giấu chúng tôi, mấy anh em trốn tù về hoạt động. Mẹ Tơm có hai người con trai đều là đảng viên cộng sản, ngày ngày đi cúp tóc để nuôi nhà và nuôi đồng chí; về sau cả hai đều bị bắt và tra tấn, nhưng đều một mực không khai cơ quan và cán bộ Đảng

Bài thơ vừa mới ra đời, đi luôn vào sách giáo khoa, in hằn lên trí nhớ của các thế hệ học trò về một bà mẹ anh hùng, một miền quê anh hùng.

Năm 1986 Tố Hữu lại về Thanh Hóa.  Ông viết một loạt thơ về quê hương thứ hai của mình. Tính ra Tố Hữu đã viết đến 14 bài thơ riêng về Thanh Hóa, trong đó có 2 bài viết liên quan đến mẹ Tơm: Bài “Mẹ Tơm” (1961) mà ai cũng biết và bài “Hậu Lộc” (1986).

Điều đáng nói là ngôi nhà của mẹ Tơm đã được công nhận là di tích lịch sử. Nhưng đó là ngôi nhà nào vậy? Thực ra cái nơi người mẹ khổ đã dành cơm

Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy, Không sợ tù gông, chấp súng gươm xứng đáng là di tích lịch sử không phải là nhà, mà như nhà thơ gọi, là mái lều. Trong bài Mẹ Tơm, tác giả đã hai lần nhắc đến mái lều này:

Nhớ lều rơm ướt sương khuya sớm

Bãi vắng đìu hiu lạc dấu đường...

Và:

Đầu thôn, cồn vắng, túp lều rơm;

Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm

Nhưng cái lều, cái nhà ấy vào năm 1961, trước khi Tố Hữu quay lại đã bị bão dập, con cháu mẹ Tơm mới dựng lại. Cho nên Tố hữu mới “Ngơ ngác trông quanh, lạ mấy lần”:

Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng

Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong

Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng

Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong ?

Song cái nhà “tường vôi trắng” Tố Hữu tả trên đây đến nay cũng không còn. Bởi vì năm 1986 một ngôi nhà khác đã mọc lên – một ngôi nhà mái bằng như ta thấy ngày nay. Nhìn ngôi nhà mới, tác giả so sánh:

Ngày xưa mái ra, phên tre

Mà nay nhà bạn bốn bề gạch xây

Ngôi nhà mới bằng gạch, khang trang, vững chãi chứng tỏ cuộc sống no đủ đi lên, “biển đau xưa rút nước xa rồi”. Mừng lắm. Mừng cho cuộc sống. Nhưng về di tích thì tôi cứ băn khoăn. Cái nhà mái bằng ấy là di tích lịch sử ư? Lại còn tên đất tên làng nữa.

Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó

Có nhiều không con nục con thu ?

Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!

Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù ?

Hanh Cát, Hanh Cù những cái tên đã đi vào lịch sử, vào thơ ca, đã neo đậu trong tình yêu, cảm xúc của nhiều thế hệ. Nhưng bây giờ đã gọi là thôn Đông Thành, Ninh Phú... xa lạ rồi!

Giá như dựng lại được mái lều xưa, khung cảnh xưa, lấy lại những cái tên xưa, cho xứng với một di tích lịch sử!

Đ.A

 

 

Tố Hữu

Mẹ Tơm

 

Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa

Một buổi trưa, nắng dài bãi cát

Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa

Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát...

 

Mười chín năm rồi. Hôm nay lại bước

Đoạn đường xưa, cát bỏng lưng đồi.

Ôi có phải sóng bồi thêm bãi trước

Hay biển đau xưa rút nước xa rồi ?

 

Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó

Có nhiều không con nục con thu ?

Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!

Nhớ nhau chăng, hỗi Hanh Cát, Hanh Cù ?

 

Tôi lại về đây, hỡi các anh

Hỡi rừng sa mộc, khóm dừa xanh

Hỡi đồi cát trắng rung rinh nắng

Hỡi những vườn dưa đỏ ngọt lành!

 

Như đứa con đi, biệt xóm làng

Nửa đời bỗng nhớ bóng quê hương

Nhớ lều rơm ướt sương khuya sớm

Bãi vắng đìu hiu lạc dấu đường...

 

Con đã về đây, ơi mẹ Tơm

Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm

Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy

Không sợ tù gông, chấp súng gươm

 

Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng

Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong

Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng

Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong ?

 

Ngơ ngác trông quanh, lạ mấy lần

Hỏi thăm cô gái má bồ quân

Mái đầu tóc xõa xanh bên giếng

- Vâng đúng nhà em, bác nghỉ chân

 

- Ô kìa, cô bé nói hay sao!

Nhà của tôi, ai lại hỏi chào

Như thể khách đường xa gác lại

Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nào?

Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?

- Hai mươi

- Ờ nhỉ, tháng năm trôi

Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến

Gió lộng đường khơi, rộng đất trời!

- Ông mất năm nao, ngày độc lập

Buồm cao đỏ sóng bóng cờ sao

Bà "về" năm đói, làng treo lưới

Biển động: Hòn Mê, giặc bắn vào...

 

Bâng khuâng chuyện cũ: Một chiều thu

Mười chín năm xưa, mấy bạn tù

Vượt ngục, băng rừng, tìm mối Đảng

Duyên may, dây nối, đất Hanh Cù.

 

Đầu thôn, cồn vắng, túp lều rơm;

Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm

Hai đứa trai ngày đi cúp dạo

Nồi khoai sớm tối lót thay cơm.

 

Thương người cộng sản, căm Tây - Nhật

Buồng Mẹ - buồng tim - giấu chúng con

Đêm đêm chó sủa... Làng bên động ?

Bóng Mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn...

 

Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh

Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh

Bãi cát vàng thau in bóng Mẹ

Chiều về... Hòn Nẹ... Biển reo quanh...

 

Sóng hãy gầm lên, gió thét lên!

Triều dâng. Chèo mạnh, thuyền ơi thuyền!

Vui chăng, hỡi Mẹ, đời vui đó:

Cờ đỏ ta lay động mọi miền!

 

Nhưng một đêm mưa, ướt bãi cồn

Lính về, lính trói cả hai con

Máu con đỏ cát đường thôn lạnh

Bóng mẹ ngồi trông, vọng nước non!

 

Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi

Tròn đôi nắm đất trắng chân đồi.

Sống trong cát, chết vùi trong cát

Những trái tim như ngọc sáng ngời!

 

Đốt nén hương thơm, mát dạ Người

Hãy về vui chút mẹ Tơm ơi!

Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới

Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi...

7/1961

 

 

 

Hậu Lộc

 

Ghé thăm Hậu Lộc, chợ Dầu

Rẽ quaHanh Cát, Hanh Cù làng xưa

Rừng phi lao dịu nắng trưa

Xõa xanh mái tóc, hàng dừa đưa duyên

Biển vui sóng giỡn mạn thuyền

Mát chân lối cát, chẳng quên ngõ về

Ngày xưa mái ra, phên tre

Mà nay nhà bạn bốn bề gạch xây

Vườn xưa, dứa dại, gai mây

Mà nay na mit chín cây trĩu cành

 

Cháu con ríu rít vây quanh

Nhìn ông khách lạ…Chú Lành khác đâu?

Bạn rằng: Dù bạc mái đầu

Thủy chung nghĩa nặng tình sâu vẫn là…

Ôm hôn hai má bạn già

Ra về ấm mãi lòng ta với đời.

23/10/1986

 

 

Đặng Ái

Bình luận (0)        Bản in        Gửi bạn bè       


Các tin khác:
Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long & Chào mừng năm mới Canh Dần (2010): ĐỀ XUẤT ĐỔI TÊN HÀ NỘI TRỞ VỀ TÊN CŨ THĂNG LONG (17.12.2009)
Chị Ba mà không phải chị Ba (29.11.2009)
Pháp luật và sự đồng thuận xã hội (25.11.2009)
Đặc xá bà Ba Sương (21.11.2009)
Không chỉ là Vedan (03.11.2009)
Gương mặt doanh nhân (29.10.2009)
Nhân tâm và tâm bão (05.10.2009)
Bình thường và không bình thường (28.09.2009)
Để mất “biên giới văn hoá” là nguy hại cho đất nước (26.09.2009)
Vua sợ nhất cái gì? (21.09.2009)



 
  Tin qua ảnh

Giao lưu văn nghệ phục vụ Hội nghị Văn học 3 nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia năm 2007 tại Trung tâm văn hóa Hội nhà văn Việt Nam

ĐT: 04 62910 988 -04 37185 271

::| Tiêu điểm
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh trả lời vanvn.net về vụ Đào Kim Hoa
 
 
Trang chủ  
  Nhân vật - Sự kiện
  Nhà văn với đời sống
  Thơ trong trí nhớ
  Thơ - Sáng tác mới
  Tản văn
  Bút ký - Phóng sự
  Truyện ngắn chọn lọc
  Truyện ngắn
  Bình luận Văn học
  Tác giả - Tác phẩm
  Nghĩ về nghề văn
  Bàn tròn văn nghệ
  Bút tích nhà văn
  Tư liệu các nhà văn
  Hồi âm bạn đọc
  Chuyện vui văn nghệ
     Bình chọn
Nếu Nhavan.vn mở thêm chuyên mục Diễn đàn Giao lưu Văn học thì bạn sẽ tham gia ở mức độ nào?
Không tham gia
Thỉnh thoảng tham gia
Hưởng ứng tích cực, thường xuyên
Thường xuyên và gửi tác phẩm lên đó
Thường xuyên và giới thiệu bạn bè tham gia
Khác
 
     Thống kê
Tổng lượt truy cập


 

TRANG CHỦ
Đặt làm trang chủ
Danh bạ Website
Gửi bài cộng tác
RSS Feed
Liên kết
- ©  2008 Bản quyền nội dung thuộc về TRUNG TÂM VĂN HÓA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM   -   Tổng biên tập: Nhà thơ LÊ QUANG SINH.
- Trụ sở: Ngõ 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 04. 6291 0988 * 04. 3718 5271
- Toàn bộ bài viết cộng tác, phản hồi, đóng góp ý kiến, liên hệ quảng cáo xin liên hệ Hotline: 0983. 214.204 hoặc: Email: banbientapnhavan@gmail.com
-Thiết kế & xây dựng bởi Trungtamthuongmai