Thi pháp văn học trung đại được văn học thời kì này thể hiện như thế nào?

Đề: Thi pháp văn học trung đại được văn học thời kì này thể hiện như thế nào?

Dàn ý

Thi pháp văn học trung đại được thể hiện trên các phương diện

– Sự đối lập giữa nhã và tục;

– Tính quy phạm khắc khe của thể loại;

– Sự ít phân biệt về ngôn từ, phương thức biểu cảm giữa thể loại chức năng hành chính, lễ nghi và thể loại văn học nghệ thuật;

– Sự đề cao các mẫu mực cổ xưa, thói quen sử dụng các yếu tố hình thức có sẵn, các điển tích, hình ảnh tượng trưng quen thuộc;

– Sự ưu tiên cho các chức năng hành chính, giáo huấn;

– Sự coi nhẹ biểu hiện cá tính con người..

Nhận xét, đánh giá

-Các đặc điểm thi pháp không làm hạn chế sự phong phú và phát triển của văn học Việt nam. 

– Sự xuất hiện của văn học Nôm và yếu tố dân gian cùng nội dung hiện thực đã làm cho các quy phạm dần dần bị lỏng leo, phá vỡ

Xem thêm:

Thuyết minh văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

Phân tích đánh giá đóng góp văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam đã hấp thụ mạch nguồn văn học dân gian như thế nào?

Bài làm

Bất cứ một dòng, một bộ phận hay một thời kì văn học nào cũng xây dựng cho nó một hệ thống thi pháp nhất định. Trải qua mười thế kỉ, văn học trung đại cũng đã hoàn thiện cho mình một hệ thống thi pháp đặc trưng.

Thi pháp văn học trung đại được thể hiện phong phú, đa dạng trên nhiều phương diện mà trước hết là sự đối lập giữa nhã và tục. Nhìn chung văn học trung đại rất đề cao cái nhã. Nhã được biểu hiện ở sự uyên bác về tri thức. Các sáng tác văn học thời kì này, từ thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến thơ, truyện thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu… thể hiện hàng loạt những tri thức sách vở, những thi liệu, điển cố điển tích lấy từ Thánh kinh hiền truyện của Nho gia, của Bách gia chư tử, từ các bộ kinh Phật, từ sách vở của Lão Trang. Với một tác phẩm ngắn gọn mà rất Nôm như bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng ta cũng có thể cảm nhận rõ vẻ nhã trong quan niệm “vô vi”:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. 

Hai câu thơ gợi lên cuộc sống đơn sơ, giản dị, đạm bạc của bậc ẩn sĩ, nhưng đạm mà lại thanh, lại thoát tục bởi con người đã thuận theo tự nhiên mà sống.

Nhã trong văn học trung đại còn được biểu hiện qua hình thức ngôn từ. Văn học trung đại thường lựa chọn những ngôn từ, những cách diễn đạt diễm lệ, tránh lối nói thông tục, nếu có thì dùng ngụ ý, ám chỉ chứ ít khi nói thẳng. Chẳng hạn, miêu tả Thúy Kiều khi tắm, Nguyễn Du đã sử dụng từ ngữ thật đẹp, thật trang nhã thay cho cách nói nôm na da trắng vỗ bì bạch như vế đối của nữ sĩ Hồng Hà:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,

Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.

 

(Truyện Kiều)

Tất nhiên, bên cạnh việc đề cao cái nhất, trong văn học thời kì này vẫn xuất hiện cái tục mà tác giả điển hình cho việc dẫn cái tục vào văn chương là Hồ Xuân Hương. Những bài thơ Vịnh cái quạt hay Hang Các Cớ.. của bà ít nhiều có yếu tố ức trong đó nhưng rõ ràng nó được dùng để “giảng thanh” hoặc để thể hiện cá tính độc đáo của thi nhân.

Thi pháp văn học trung đại còn được thể hiện ở tính quy phạm khắt khe của thể loại. Mỗi thể loại văn học trung đại có những yêu cầu mang tính đặc trưng mà nhà văn, nhà thơ khi sáng tác phải tuân thủ. Các tác giả văn học trung đại Việt Nam đã sử dụng các thể loại sẵn có của Trung Quốc và xem đó như là khuôn mẫu đã định hình về bố cục, cấu trúc, cùng niêm luật, vần đối chặt chẽ, thống nhất, mà người sáng tác không được phép phá vỡ như cáo, hịch, phú Đường luật, văn tế theo lối phú Đường luật, thơ Đường luật… Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng trong quá trình tiếp thu, nhiều tác giả tài năng luôn thể hiện ý thức Việt hóa các thể loại văn học của Trung Quốc. Chẳng hạn, Nguyễn Trãi luôn có những câu lục ngôn xen vào các câu thất ngôn một cách tài tình trong bài thơ Đường luật:

-Rồi hóng mát thuở ngày trường (..)

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

(Cảnh ngày hè)

 

– Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen.

(Thuật hứng, bài 24)

 

Hay từ thể phú viết bằng chữ Hán với chức năng tụng ca, phúng gián, chúng ta có phú Nôm với lời lẽ nôm na, mộc mạc; từ thơ Đường luật tỏ chí, chúng ta có lối thơ hài hước trào lộng dùng lời ăn tiếng nói hằng ngày…

Một phương diện khác góp phần thể hiện thi pháp văn học trung đại, chính là sự ít phân biệt về ngôn từ, phương thức biểu cảm giữa thể loại chức năng hành chính, lễ nghỉ và thể loại văn học nghệ thuật. Tình trạng này đã dẫn đến trạng thái văn ~ sử – triết bất phân trong các sáng tác thời kì trung đại. Vậy nên văn học thời kì này mới có những sáng tác lịch sử mang giá trị văn học như Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên).

Không chỉ có vậy, thi pháp văn học trung đại còn là sự để cao các mẫu mực cổ xưa, thói quen sử dụng các yếu tố hình thức có sẵn, các điển tích, hình ảnh tượng trưng quen thuộc. Khi sáng tác, các tác giả thời trung đại thường vay mượn văn thi liệu, điển cố, điển tích lấy từ sách vở Thánh hiền và kinh sách của các tôn giáo. Sự vay mượn này được lặp lại nhiều đến nỗi thành những mô típ quen thuộc tạo nên tính ước lệ, tượng trưng trong văn học. Nói đến cây và hoa thì phải nhắc tới tùng, cúc, trúc, mai, sen.., nói đến con vật thì phải là long, li, quy, phụng; nói đến người thì ngư, tiều, canh,mục; nói đến hoa bốn mùa phải là xuân lan, thu cúc, hạ sen, đông mai; tả cảnh mùa thu thì phải là lá ngô đồng rụng, rừng phong thu..; nói đến thời gian phải là đêm năm canh, ngày sáu khắc.. Bởi sùng cổ nên ngay cả khi vị chủ tướng muốn khích lệ lòng yêu nước, lòng tận trung với chủ của các tướng sĩ dưới quyển thì nhất định những tấm gương trung thần nghĩa sĩ được chép trong sử sách Trung Quốc, tức đối phương, như Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Vương Công Kiên.. phải được dẫn ra. Khi sáng tác, các tác giả còn vay mượn để tài, cốt truyện, mô típ, có khi cải biên cốt truyện để tạo nên một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu sẵn có đã thành công thức. Một loạt truyện Nôm Việt Nam như Nhị độ mai, Hoa tiên truyện, Đoạn trường tân thanh… là những ví dụ.

Một phương diện khác thể hiện thi pháp văn học trung đại chính là sự ưu tiên cho các chức năng hành chính, giáo huấn. “Văn dĩ tải đạo” (văn chương phải chuyên chở đạo lí) là quan niệm phổ biến trong văn học trung đại Việt Nam. Đạo ấy là đạo lí của Thánh hiền nhưng cũng còn là đạo lí của nhân dân, mang tư tưởng thân dân. Thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu.. là những minh chứng nổi bật cho đặc điểm thi pháp đó.

Góp phần làm nên thi pháp văn học trung đại còn là sự coi nhẹ biểu hiện cá tính con người hay còn gọi là tính chất phi ngã. Văn học Việt Nam thời phong kiến thường để cao cái “ta” cộng đồng mà giấu đi cái “tôi” bản thể, giấu đi con người cá nhân. Nhưng rõ ràng ở một số tác giả tài năng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, cái “tôi” cá nhân trữ tình trong văn chương được bộc lộ khá đậm nét.

Có thể thấy văn học trung đại đã xây dựng cho mình một hệ thống thi pháp hết sức phong phú, đa dạng. Các đặc điểm thi pháp không làm hạn chế sự phong phú và phát triển của văn học Việt Nam. Văn học trung đại Việt Nam vận động theo hướng dân tộc hóa, dân chủ hóa. Sự xuất hiện của văn học Nôm và yếu tố dân gian cùng nội dung hiện thực đã làm cho các quy phạm dần dần bị lỏng lẻo, phá vỡ: Tuy nhiên, vẫn phải khẳng định rằng với những đặc điểm thi pháp đó, văn học trung đại đã khiến chúng ta không thể nhận lầm sang các thời kì văn học viết sau này.

Viết một bình luận