Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

Đường xưa mây trắng | Chương 32

Bụt về giáo pháp của người. Thay vì mô tả và tường thuật, hai vị đưa ông đến trực tiếp gặp Bụt.Dighanakha nói với Bụt Sa môn Gotama, ngài dạy giáo pháp gì.

15 phút đọc.

0 lượt xem.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhà sư, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội và hòa bình nổi tiếng trên thế giới. Ông là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân. Ông cũng là người đưa ra khái niệm chánh niệm, một phương pháp tu tập và sống đời giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với bản thân, với mọi người và với thiên nhiên.

Tôi viết Đường Xưa Mây Trắng ở quán Xóm Thượng, khi chưa có lò sưởi trung ương, chỉ một lò củi nhỏ giữa trời lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc.

Một buổi chiều nọ, hai vị đại đức Sariputta và Moggallana đến thăm Bụt nơi tịnh xá của người và giới thiệu với Bụt một người quen thân của họ, du sĩ Dighanakha. Du sĩ Dighanakha không phải là đệ tử của đạo sĩ Sanjaya nhưng cũng rất nổi tiếng, Dighanakha là cậu ruột của đại đức Sariputta. Nghe nói hai người thân nhất của mình đã xuất gia theo Bụt, ông tìm tới để hỏi thăm Bụt về giáo pháp của người. Thay vì mô tả và tường thuật, hai vị đưa ông đến trực tiếp gặp Bụt.

Dighanakha nói với Bụt:

– Sa môn Gotama, ngài dạy giáo pháp gì? Chủ thuyết của ngài là chủ thuyết nào? Riêng tôi, tôi không thích một chủ trương hay một lý thuyết nào hết. Tôi không tin vào một chủ trương hay một lý thuyết nào hết.

Bụt mỉm cười hỏi:

– Vậy ngài có thích cái chủ trương không thích của ngài không? Ngài có tin cái chủ trương không tin của ngài không?

Vị du sĩ ngỡ ngàng. Ông ta nói liều:

– Sa môn Gotama, tôi thích hay không thích, tôi tin hay không tin, thì cũng như vậy thôi, điều đó không quan hệ gì mấy.

Bụt từ tốn:

– Một khi đã bị kẹt vào một chủ thuyết rồi thì người ta mất hết tự do, người ta trở nên độc đoán, cho rằng chỉ có chủ thuyết của mình mới là chân lý còn tất cả những chủ thuyết khác đều là tà đạo. Những tranh chấp và cãi cọ được phát sinh từ thái độ cố chấp này. Những tranh chấp và cãi cọ ấy có thể kéo dài bất tuyệt, làm mất rất nhiều thì giờ quý báu và có thể tạo ra xung đột và chiến tranh. Vì vậy cho nên kiến thủ là trở ngại lớn lao nhất trên con đường tu học.

– Kiến thủ là gì?

– Kiến là nhận thức, là quan điểm. Thủ là sự cố chấp. Kiến thủ là cố chấp vào một nhận thức hay một quan điểm. Cố chấp như vậy là bị kẹt, vì bị kẹt cho nên cánh cửa chân lý không còn cơ hội mở ra cho mình nữa.

Này ông bạn, để tôi kể cho ông bạn nghe câu chuyện này. Có một người lái buôn góa vợ kia đang sống với một đứa con trai năm tuổi. Anh ta cưng chiều con, xem đứa nhỏ là lẽ sống của đời mình. Một bữa nọ trong khi anh ta bỏ hàng đi vắng, kẻ cướp đến đốt xóm đốt làng, cướp bóc và bắt đứa con của anh đi theo. Khi về tới nơi, người cha trẻ thấy thi hài một em bé cháy đen nằm bên căn nhà đã cháy rụi của mình, anh ta tin ngay rằng con mình đã chết. Anh ta khóc lóc, làm lễ hỏa thiêu thân xác đứa bé, vì thương con quá, anh ta cất tro của đứa bé vào một cái túi gấm và đi đâu cũng mang theo bên mình. Mấy tháng sau, đứa con của anh ta thoát được tay kẻ cướp và tìm về được vào lúc nửa đêm. Nó gõ cửa đòi vào. Lúc ấy người cha trẻ đang ôm chiếc túi gấm đựng tro và than khóc một mình. Anh ta không chịu đứng dậy mở cửa. Anh ta tin rằng con anh đã chết thật rồi, và đứa trẻ đang gõ cửa ngoài kia là một đứa trẻ hàng xóm mất dạy nào đó đang cố tình trêu ghẹo anh. Vì vậy mà đứa con thật của anh ta phải thất thểu ra đi, và người cha khốn khổ kia vĩnh viễn mất đứa con duy nhất.

Này ông bạn, nếu ta cố chấp vào một chủ nghĩa và cho đólà chân lý tuyệt đối, ta sẽ lâm vào tình trạng của người cha trẻ kia. Ta sẽ không mở lòng ta ra được để đón nhận chân lý. Ta sẽ có cảm tưởng rằng ta không cần đi tìm sự thật nữa, vì ta đã có sự thật rồi. Lúc ấy nếu sự thật có tới gõ cửa tìm ta, ta cũng sẽ từ chối không mở cửa.

Dighanakha hỏi:

– Vậy giáo pháp của ngài dạy có phải là một chủ nghĩa không? Cố chấp vào nó có phải là kiến thủ không?

– Giáo pháp của tôi chỉ dạy không phải là một chủ nghĩa hay một lý thuyết. Nó không hình thành do công phu suy tư và ức đạt của trí năng, như những chủ thuyết chủ trương về bản chất của vũ trụ, cho rằng bản chất ấy là lửa, nước, là đất, là gió hay là thần linh hoặc cho rằng vũ trụ hữu hạn hay vô hạn, hữu biên hay vô cùng v.v…

Trí năng ức đạt và suy tư về sự thật cũng như con kiếnbò quanh miệng bình bát không đưa ta đi đến đâu cả.

Không, giáo pháp của tôi dạy không phải là một chủ thuyết xây dựng trên trí năng. Đó là kinh nghiệm thực chứng, những gì tôi nói ra tôi đều đã thực chứng, và ông bạn cũng có thể kiểm điểm lại bằng kinh nghiệm thực chứng của ông bạn. Tôi nói vạn vật là vô thường và không có tư ngã. Điều này tôi đã chứng nghiệm và các bạn cũng có thể chứng nghiệm. Tôi nói vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi, tồn tại, và hoại diệt, chứ không phải xuất phát từ một nguyên nhân đầu tiên nào hết. Điều này tôi cũng đã chứng nghiệm và các bạn cũng có thể chứng nghiệm. Tôi nói quán chiếu về vô thường, vô ngã và duyên sinh thì có thể đạt tới giải thoát và an lạc. Điều này tôi cũng đã chứng nghiệm và các bạn cũng có thể chứng nghiệm. Những điều tôi nói không có mục đích thuyết minh về vũ trụ mà chỉ có mục đích hướng dẫn sự thực tập và chứng nghiệm thực tại. Lời nói không diễn tả được thực tại, chỉ có kinh nghiệm trực tiếp mới làm cho ta tiếp xúc được với thực tại.

Dighanakha thốt lên:

– Hay quá, hay quá, sa môn Gotama! Nhưng trong trường hợp mà có người nhận thức giáo pháp của ngài như một chủ thuyết thì sao?

Bụt im lặng gật đầu:

– Du sĩ Dighanakha, câu hỏi của ông bạn hay lắm. Giáo pháp của tôi không phải là một chủ thuyết do trí năng tạo dựng, nhưng sau này và ngay cả bây giờ nữa, có thể đã có những người nhận giáo pháp ấy như một chủ thuyết. Tôi cần nói rõ: giáo pháp của tôi là một phương tiện để đi vào thực tại chứ không phải là để miêu tả thực tại, cũng như ngón tay chỉ lên mặt trăng không phải là mặt trăng. Người khôn khéo phải nương vào ngón tay để thấy được mặt trăng. Nếu cố chấp vào ngón tay, nếu cho ngón tay là mặt trăng thì sẽ không có cơ hội nào thấy được mặt trăng cả. Giáo pháp của tôi là để thực tập chứ không phải là để cất giữ mà thờ phụng và ca ngợi. Chiếc bè là để giúp ta qua sông chứ không phải để ta vác lên trên vai mà tự hào. Này các bạn, giáo pháp tôi dạy cũng như một chiếc bè. Phải sử dụng nó để đi sang bên bờ bên kia, bờ giải thoát.

– Xin Bụt chỉ bày cho tôi con đường có thể vượt thoát được những cảm thọ sầu khổ.

– Cảm thọ có ba loại: cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu và cảm thọ không dễ chịu cũng như không khó chịu. Cả ba loại cảm thọ đều có gốc rễ hoặc trong thân thể hoặc trong tâm ý và nhận thức. Cảm thọ có sinh có diệt như bất cứ hiện tượng tâm vật lý nào. Phương pháp tôi chỉ bày là phương pháp quán chiếu. Quán chiếu để có thể thấy được bản chất và nguồn gốc của các cảm thọ, dù là lạc thọ, khổ thọ hay xả thọ. Thấy được nguồn gốc của các cảm thọ rồi, ta sẽ thấy được bản chất của cảm thọ. Ta sẽ thấy cảm thọ cũng có tánh vô thường và vô ngã như tất cả các pháp khác. Sự sinh diệt của chúng dần dần sẽ không động được tới ta. Hầu hết các cảm thọ khổ đau của ta đều bắt nguồn từ nhận thức sai lầm của ta về thực tại. Nhổ bật gốc rễ của những sai lầm ấy lên thì khổ thọ không còn. Các vị nên biết: nhận thức của con người đầy dẫy sai lầm. Vạn pháp vô thường mà cho là thường, vạn pháp vô ngã mà cho là ngã. Đó là vô minh. Vô minh là nguồn gốc của khổ đau. Tu tập đạo giải thoát tức là diệt trừ vô minh của nhận thức. Điều này quý vị chỉ có thể thực tập bằng phép quán chiếu chứ không thể thực tập bằng cách cầu nguyện và tế tự.

Trong khi Bụt nói, các đại đức Sariputta và Moggallana đều có mặt. Họ đứng sau lưng người. Kaludayi cũng có mặt. Thầy thị giả Nagasamala cũng có mặt. Channa cũng có mặt. Nhưng người thấu đạt sâu sắc những lời Bụt nói là đại đức Sariputta. Thầy thấy tâm trí thầy sáng lên như có một mặt trời tỏa chiếu. Không ngăn được xúc cảm, thầy chắp tay sụp lạy xuống trước mặt Bụt.

Moggallana cũng cảm động không kém. Thấy bạn lạy xuống, thầy cũng lạy xuống. Du sĩ Dighanakha đã thấy thấm thía từ lúc Bụt kể chuyện người cha trẻ mất con, bây giờ được hoàn toàn chinh phục. Thấy hai bạn lạy xuống, ông cũng lạy xuống. Ông xin Bụt được xuất gia theo học với người.

Kaludayi và Channa được chứng kiến cảnh tượng này rất lấy làm cảm động.

Trong họ nảy sinh vừa niềm tin tưởng vừa sự tự hào.

Mấy hôm sau đó, hoàng hậu Vaidehi cùng người của hoàng gia đưa thực phẩm đến cúng dường đại chúng. Hoàng hậu lại đem theo cả một cây bông sứ để trồng phía bên trái túp lều của Bụt. Hoàng hậu nhớ mãi câu chuyện tiền thân về cây bông sứ mà Bụt đã kể cho trẻ em tại sân rồng hơn một tháng trước.

Dưới sự hướng dẫn của Bụt, đại chúng tu học rất tinh tiến và đạt được rất nhiều tiến bộ. Các đại đức Sariputta và Moggallana đã trở nên những ngôi sao sáng nhờ sự thông minh, công phu hành trì và tài lãnh đạo của họ. Cùng với các vị đại đức khác như Kondanna và Kassapa, họ giúp Bụt tổ chức và hướng dẫn tăng đoàn một cách rất hữu hiệu. Uy tín của tăng đoàn càng ngày càng lên cao và vì vậy tại thủ đô Rajagaha đã bắt đầu có một luồng dư luận nói xấu Bụt.

Nguồn dư luận này có thể đã phát xuất từ những giáo phái có tư tưởng cạnh tranh. Các vị đệ tử tại gia đến tu viện Trúc Lâm để cúng dường và học hỏi thỉnh thoảng lại nói đến nguồn dư luận này. Người ta đồn đãi rằng từ khi Bụt đến thành Vương Xá, người đã quyến rũ hàng ngàn thanh niên tuấn tú theo một đạo mới. Họ nói không biết sau này bao nhiêu ngàn người con trai nữa sẽ bỏ nhà bỏ cửa theo Bụt, và bao nhiêu người con gái lớn lên sẽ không lập được gia đình và nối dõi được tổ tông.

Một số các vị khất sĩ không mấy hài lòng khi nghe những lời buộc tội này. Rốt cuộc tiếng đồn tới được tai Bụt. Bụt an ủi các vị khất sĩ và các vị đệ tử tại gia: Quý vị đừng phiền muộn về những lời đồn đãi đó. Những lời đồn đãi đó trước sau gì cũng sẽ im bặt.

Mà đúng như thế.

Chỉ trong vòng nửa tháng sau, không ai còn nói đến luồng dư luận kia nữa.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 01 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 02 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 03 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 04 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 05 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 06 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 07 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 08 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 09 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 10 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 11 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 12 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 13 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 14 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 15 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 16 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 17 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 18 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 19 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 20 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 21 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 22 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 23 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 24 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 25 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 26 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 27 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 28 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 29 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 30 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 31 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 32 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 33 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 34 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 35 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 36 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 37 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 38 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 39 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 40 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 41 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 42 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 43 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 44 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 45 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 46 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 47 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 48 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 49 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 50 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 51 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 52 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 53 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 54 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 55 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 56 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 57 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 58 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 59 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 60 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 61 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 62 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 63 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 64 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 65 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 66 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 67 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 68 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 69 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 70 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 71 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 72 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 73 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 74 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 75 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 76 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 77 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 78 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 79 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 80 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 81 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 82 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 83 tại đây.

Đường xưa mây trắng | Chương 32 540 – thu vien, van hoc, van hoc viet nam, doan van, ton giao, phat giao, thien van, thuc hanh ton giao, thich nhat hanh, duong xua may trang, duong xua may trang chuong 33, duong xua may trang 33.
Đường xưa mây trắng | Chương 32.

Chuyên mục van-hoc-viet-nam

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Khoa Điềm từng làm báo Vùng lên của sinh viên Huế cùng với Trần Vàng Sao. Ban đầu, việc viết thơ của ông chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của tòa soạn, cần có một.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Trung Thu. Việc tuân thủ quy tắc này không chỉ thể hiện sự tôn trọng mà còn đảm bảo tính thống nhất và chuyên nghiệp trong văn bản. Ví dụ minh họaĐể minh h.

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao
Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Sang và tổng Cao Đà quê ông, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất quê hương.Cuộc đời của nhà văn Nam Cao là hành trình vất vả của một con người tài năng.

Tiểu sử nhà văn Nam Cao
Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Hội có trụ sở chính đặt tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, một địa chỉ thuận tiện cho việc liên hệ và tổ chức các hoạt động ở miền Bắc.

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Có được một tác phẩm sống mãi cùng năm tháng cũng đã là quý giá.Trong bối cảnh văn học Việt Nam sau 1945, Nguyễn Thành Long được xếp vào nhóm những nhà văn.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tuân là tấm gương về sự kết hợp giữa tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm xã hội. Đối với Nguyễn Tuân, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật tr.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân
Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Lâm Thị Mỹ Dạ. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự ghi nhận của cộng đồng văn học và nhà nước đối với những đóng góp của ông.Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Quỳnh vượt xa ranh giới của một nhà thơ thông thường, bà đã trở thành một hiện tượng văn hóa cultural phenomenon, một biểu tượng của tình yêu và phẩm chất.

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh
Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Bắc, Tây Bắc.Năm 1950, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, từng làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Những trải nghiệm trong thời kỳ kháng chiến khôn.

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài
Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Lan Viên là một trong những nhà thơ được độc giả yêu mến nhất, thơ ông được truyền tụng rộng rãi qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ vì giá trị nghệ thuật.

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Chuyên mục thu-vien

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Qua gần một thế kỷ kể từ khi những tác phẩm đầu tiên của ông ra đời, thơ Tố Hữu vẫn giữ được sức sống mãnh liệt, vẫn được đông đảo độc giả yêu mến và các n.

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu
Tiểu sử nhà thơ Thanh Hải

Tiểu sử nhà thơ Thanh Hải

Thông qua những tác phẩm của mình, ông đã chứng minh rằng thơ ca không nhất thiết phải hào hùng, rầm rộ mới có thể thể hiện được tinh thần yêu nước và ý th.

Tiểu sử nhà thơ Thanh Hải
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thi

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thi

Cô gái đất dừa, Sen trong đồng, Ở xã Trung Nghĩa và một số tác phẩm còn đang viết dở dang được rút từ di cảo. Vị trí trong lịch sử văn họcNguyễn Thi đã trở.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thi
Tiểu sử nhà thơ Huy Cận

Tiểu sử nhà thơ Huy Cận

Trần Huy Liệu vào Huế dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại một sự kiện mang tính biểu tượng quan trọng trong lịch sử dân tộc.Sau Cách mạng tháng Tám, Huy Cận đảm.

Tiểu sử nhà thơ Huy Cận
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu

Minh Châu đều trở thành những gợi ý đáng suy nghĩ và có tầm triết lý. Nhận xét này chỉ ra điều quý giá trong nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu khả năng biến.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Nguyễn Huy Thiệp. Đánh giá của giới chuyên mônTheo nhà văn Bùi Quang Tú Cha tôi thường nói Nguyễn Huy Thiệp có bút pháp lạnh. Trong dòng chảy văn học hậu c.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu

Tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu

Diệu viết bài thơ nổi tiếng ấy, theo lời kể của nhà thơ Hoàng Cát. Điều này cho thấy những bài thơ của Xuân Diệu không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu
Đạo Phật của tuổi trẻ | Chương 02

Đạo Phật của tuổi trẻ | Chương 02

Đó là công tác, là sứ mạng rất lớn. Cố nhiên nếu gia đình ta không có hạnh phúc, hòa điệu thì ta chưa thể làm được việc đó. Ta phải dùng gia đình ta làm mẫ.

Đạo Phật của tuổi trẻ | Chương 02
Anh hùng xạ điêu | Chương 11

Anh hùng xạ điêu | Chương 11

Xử Cơ. Hai người bọn họ hẹn Ngọc Dương tử Vương Xử Nhất gặp nhau ở Trung đô để bàn việc tỷ võ với Giang Nam thất quái. Sư huynh đệ họ đang vội vàng đi, khô.

Anh hùng xạ điêu | Chương 11
Gián điệp mạng | Chương 31

Gián điệp mạng | Chương 31

Gián điệp mạng, chương 44 tại đây.Đọc Gián điệp mạng, chương 45 tại đây.Đọc Gián điệp mạng, chương 46 tại đây.Đọc Gián điệp mạng, chương 47 tại đây.Đọc Giá.

Gián điệp mạng | Chương 31
Con đã có đường đi | Lời nói đầu

Con đã có đường đi | Lời nói đầu

Bụt cho một nền đạo đức toàn cầu. Cuốn sách này ghi chép lại những bài pháp thoại đã được nói trong ba tháng an cư ấy. Đây là một tư liệu mà bạn đọc có thể.

Con đã có đường đi | Lời nói đầu

Chuyên mục duong-xua-may-trang-chuong-33

Đường xưa mây trắng | Chương 32

Đường xưa mây trắng | Chương 32

Bụt về giáo pháp của người. Thay vì mô tả và tường thuật, hai vị đưa ông đến trực tiếp gặp Bụt.Dighanakha nói với Bụt Sa môn Gotama, ngài dạy giáo pháp gì.

Đường xưa mây trắng | Chương 32

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ