Lặng lẽ mai một ngôn ngữ bản địa Việt Nam
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, thực trạng suy giảm của các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam, và những nỗ lực bảo tồn đầy trăn trở trước khi quá muộn.
Nhavanvn là trung tâm nghiên cứu, phát triển nhà văn Việt Nam. Sứ mệnh duy trì, nâng cao văn hóa đọc, cải thiện năng lực cảm thụ văn chương cho người Việt.
Nhavanvn hệ thống hóa kiến thức ngữ văn và tiếng Việt theo từng cấp độ – từ ngữ pháp căn bản, phong cách học, đến các vấn đề tu từ và văn bản học chuyên sâu. Người đọc có thể tiếp cận theo lộ trình rõ ràng, không cần nền tảng học thuật, chỉ cần sự tò mò và tình yêu với ngôn ngữ.
Mỗi tác giả là một cuộc đời, mỗi tác phẩm là một thời đại. Nhavanvn giới thiệu chân dung các nhà văn, nhà thơ Việt Nam qua góc nhìn đa chiều – từ bối cảnh lịch sử, phong cách nghệ thuật đến ảnh hưởng trong dòng chảy văn học dân tộc – giúp người đọc hiểu sâu hơn, không chỉ đọc thuộc lòng tên tuổi.
Từ văn hóa làng xã Việt Nam, tín ngưỡng dân gian đến di sản phi vật thể của các nền văn minh lớn trên thế giới – Nhavanvn tiếp cận từng chủ đề với thái độ nghiêm túc nhưng ngôn ngữ không đánh đố. Kiến thức học thuật được viết lại để bất kỳ ai cũng có thể đọc và suy nghĩ cùng.
Con người từ đâu đến, vũ trụ hình thành như thế nào, nghệ thuật nói gì về thời đại sinh ra nó – đây là những câu hỏi Nhavanvn không ngại đặt ra và tìm cách trả lời. Nội dung nghiên cứu liên ngành, từ thiên văn học đến triết học nghệ thuật, được biên tập cẩn thận để vừa đúng về học thuật vừa hấp dẫn để đọc.
Từ văn học trung đại đến thơ mới, từ tự lực văn đoàn đến các tác giả đương đại – kho thư viện của Nhavanvn tổng hợp tác phẩm văn thơ Việt Nam theo thời kỳ, thể loại và tác giả. Mỗi tác phẩm có chú thích ngữ cảnh, giúp người đọc hiểu đúng, cảm đúng, không phải đọc thuộc mà không biết vì sao hay.
Nhavanvn lưu trữ và dịch thuật có chọn lọc các tác phẩm văn học quốc tế quan trọng – bao gồm diễn từ Nobel Văn học, trích đoạn tiểu thuyết kinh điển và thơ ca từ nhiều nền văn hóa khác nhau. Mục tiêu không phải đọc cho nhiều, mà đọc đúng những tác phẩm thực sự có giá trị và hiểu được vì sao chúng trường tồn.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, thực trạng suy giảm của các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam, và những nỗ lực bảo tồn đầy trăn trở trước khi quá muộn.
Mỗi bước chân rời khỏi mảnh đất cội nguồn là một bước tiến xa hơn khỏi những giá trị, phong tục và lối sống đã ăn sâu vào tiềm thức.
Di sản Huế ít được giới trẻ quan tâm. Tìm hiểu thực trạng, thái độ thanh niên qua khảo sát UNESCO 2016 về văn hóa di sản.
Người trẻ rời làng ra thành phố, để lại khoảng trống văn hóa. Khám phá tác động của di cư đến bản sắc quê hương và cộng đồng địa phương.
Bữa cơm gia đình phai nhạt trong xã hội hiện đại. Tìm hiểu sự mất kết nối văn hóa và cách khôi phục giá trị truyền thống.
The Thirteen Cyclers hy vọng khám phá càng nhiều lãnh thổ mới càng tốt, xét đến địa hình của vùng nông thôn xung quanh.
Người già mất vai trò truyền tải kinh nghiệm, văn hóa trong đời sống hiện đại. Khám phá thực trạng đáng buồn này và tác động đến xã hội hôm nay.
Trang phục và biểu đạt bản sắc qua hình thể, đang bị đồng phục hóa trong đời sống đương đại, dẫn đến sự tiêu chuẩn hóa và thương mại hóa biểu tượng văn hóa.
Quyền năng thị giác ngày càng trở nên áp đảo khi mỗi chi tiết về hình thể đều có thể được phơi bày, lan truyền và bình phẩm chỉ trong vài giây.
Lễ hội truyền thống, nơi các nghi thức cộng đồng xưa được sân khấu hóa, tái cấu trúc theo hướng biểu diễn hóa, phục vụ du lịch nhiều hơn là cộng đồng nội tại.
Khoảng cách liên thế hệ khi người già và người trẻ không còn chia sẻ cùng một nền tảng ngôn ngữ, dẫn đến sự đứt đoạn trong quá trình trao truyền.
Tại các vùng cao của Việt Nam, tiếng chiêng, tiếng khèn và điệu hát dân gian không chỉ là nghệ thuật mà còn là cách con người giao tiếp với thiên nhiên.
Tiếng nói người Mizrahim – những người Do Thái từ Trung Đông và Bắc Phi – đã bị lu mờ bởi tường thuật chi phối của cộng đồng Ashkenazi châu Âu.
Lịch sử lưu đày của dân tộc Do Thái không chỉ là câu chuyện về di cư cưỡng bức và phân tán địa lý, mà còn là quá trình sáng tạo văn hóa phi thường.
Messianic Politics – chính trị mang màu sắc thiên niên kỷ – đại diện cho một hiện tượng phức tạp và đầy mâu thuẫn trong xã hội Israel hiện đại.
Sự tàn sát có hệ thống sáu triệu người Do Thái dưới chế độ Nazi đã phá vỡ mọi khuôn khổ giải thích tôn giáo truyền thống về mối quan hệ giữa Thượng Đế.
Nghị quyết 181 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, được thông qua ngày 29 tháng 11 năm 1947, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Trung Đông hiện đại.
Lịch sử Do Thái giáo là câu chuyện về tôn giáo biết cách tồn tại không nhờ vào lãnh thổ cố định hay trung tâm nghi lễ bất biến kéo dài hàng thiên niên kỷ.
Ranh giới giữa phê phán chính sách và phân biệt đối xử luôn là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong các cuộc tranh luận về Israel và Palestine.
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, ít có hệ thống luật pháp nào tồn tại và phát triển liên tục qua hơn hai thiên niên kỷ như Talmud và Halakhah của Do Thái.
Cộng đồng Do Thái tạo ảnh hưởng toàn cầu dù bị phân tán. Tìm hiểu di sản của họ định hình thế giới hiện đại qua văn hóa, học thuật và bản sắc.
Trong lịch sử xung đột Israel – Palestine, sự kiện 1948 đây là thảm họa dân tộc, mất đi quê hương, nhà cửa và cộng đồng mà tổ tiên đã sinh sống hàng thế kỷ.
Lịch sử hàng ngàn năm lưu đày và phân tán đã khắc sâu vào cộng đồng Do Thái không chỉ ý thức về sự tồn tại tập thể, mà còn cả những vết nứt nội bộ phức tạp.
Holocaust không chỉ là một thảm họa lịch sử kết thúc với sự ra đi của hàng triệu người Do Thái, mà còn để lại những dấu ấn sâu sắc kéo dài qua nhiều thế hệ.
Tứ vô lượng tâm là 4 tâm từ bi trong Phật giáo gồm Từ, Bi, Hỷ, Xả, hướng đến lòng yêu thương, cứu khổ, vui mừng và buông xả.
Ngũ căn là 5 căn bản tâm linh gồm Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Ngũ lực là sức mạnh của 5 căn này, giúp vượt qua chướng ngại.
Tam độc là 3 độc tố tâm linh trong Phật giáo gồm Tham, Sân, Si, gây khổ đau và cản trở con đường giác ngộ, giải thoát.
Tam bảo là 3 nơi nương tựa trong Phật giáo gồm Phật, Pháp, Tăng, dẫn dắt con người đến giác ngộ và giải thoát khổ đau.
Tam học là 3 môn học cốt lõi trong Phật giáo gồm Giới, Định, Tuệ, giúp con người rèn luyện đạo đức, tâm trí và trí tuệ.
Thập thiện là 10 hành vi thiện lành trong Phật giáo, gồm 3 về thân, 4 về khẩu, 3 về ý, giúp con người sống đúng đắn, tích lũy công đức.
Tứ diệu đế là 4 chân lý cốt lõi của Phật giáo gồm Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chỉ ra nguồn gốc khổ đau và con đường dẫn đến giải thoát.
Ngũ uẩn là 5 yếu tố cấu thành con người gồm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, giải thích bản chất vô ngã trong Phật giáo.
Ngũ giới là 5 nguyên tắc đạo đức cơ bản của Phật giáo gồm không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng chất say.
Tứ chánh cần là 4 nỗ lực đúng đắn gồm ngăn ác, diệt ác, phát thiện, tăng thiện, giúp con người sống đúng theo Phật pháp.
Bát chánh đạo là 8 con đường đúng đắn trong Phật giáo, gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp và các Chánh khác, dẫn đến giác ngộ.
Tứ niệm xứ là 4 nền tảng chánh niệm gồm Quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp, giúp phát triển sự tỉnh thức và trí tuệ trong Phật giáo.
Diễn từ Nobel văn học 1997 của Dario Fo không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1990 của Octavio Paz không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 2006 của Doris Lessing không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1993 của Toni Morrison không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1998 của José Saramago không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1999 của Cao Hành Kiện không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 2008 của J. M. G. Le Clézio không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1995 của Seamus Heaney không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1996 của Wisława Szymborska không chỉ bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 2005 của Harold Pinter không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 1991 của Nadine Gordimer không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
Diễn từ Nobel văn học 2008 của Imre Kertész không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.
20 Lê Lợi, Vĩnh Ninh, Thành phố Huế
+84 88 686 7749
info@nhavan.vn
Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhavanvn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.
Cảm ơn bạn đã điền, thông tin đã được ghi lại.