Trung tâm nghiên cứu văn học, phát triển nhà văn Việt Nam

Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison

Diễn từ Nobel văn học 1993 của Toni Morrison không chỉ là bài phát biểu tri ân của tác giả khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới.

33 phút đọc.

0 lượt xem.

Diễn từ Nobel văn học không chỉ là bài phát biểu tri ân của những tác giả vĩ đại khi nhận giải thưởng danh giá nhất trong làng văn chương thế giới. Đó còn là những tuyên ngôn về nghệ thuật, về tầm nhìn triết học, về vai trò của văn chương trong đời sống tinh thần nhân loại. Qua từng diễn từ Nobel văn học, chúng ta không chỉ hiểu được con người của nhà văn mà còn nhận ra được mạch nguồn sáng tạo, nhận thức thời đại và trách nhiệm của người cầm bút với hiện thực xã hội.

Dưới đây là bản dịch Diễn từ Nobel Văn học 1993, chuyển ngữ trực tiếp từ nguyên văn lưu trữ tại Thư viện Nobel Prize. Ban biên tập ưu tiên sử dụng bản gốc của tác giả làm cơ sở dịch thuật, trong trường hợp văn bản được viết bằng ngôn ngữ phi Latin (như tiếng Nhật, tiếng Hàn…) thì sử dụng bản Diễn từ Nobel Văn học tiếng Anh chính thức do Nobel Prize công bố.

Tiếng nói của người Mỹ gốc Phi Toni Morrison trong văn học Hoa Kỳ

Toni Morrison (1931 – 2019) tên khai sinh là Chloe Anthony Wofford, là nhà tiểu thuyết, biên tập viên và giáo sư người Mỹ gốc Phi, một trong những nhà văn có ảnh hưởng nhất của văn học Hoa Kỳ trong thế kỷ hai mươi. Bà sinh ngày 18 tháng 2 năm 1931 tại Lorain, Ohio, trong một gia đình công nhân da đen. Cha bà là thợ hàn và mẹ là người làm việc nhà, cả hai đều là con cháu của những người nô lệ đã trốn thoát từ miền Nam lên phía Bắc tìm kiếm tự do. Morrison lớn lên trong một cộng đồng đa chủng tộc và đa văn hóa, nơi bà tiếp xúc với nhiều truyền thống văn hóa khác nhau, từ văn học cổ điển châu Âu đến truyền thống kể chuyện dân gian Châu Phi. Năm 1993, Toni Morrison trở thành người phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên được trao giải Nobel văn học, vì những tiểu thuyết đặc trưng bởi sức mạnh tưởng tượng và ý nghĩa thơ ca, mang lại sự sống cho một khía cạnh thiết yếu của hiện thực Mỹ, công nhận đóng góp to lớn của bà trong việc làm sáng tỏ kinh nghiệm lịch sử và văn hóa của người Mỹ gốc Phi.

Từ biên tập viên đến nhà văn huyền thoại

Toni Morrison hoàn thành bằng Cử nhân tại Đại học Howard năm 1953 và bằng Thạc sĩ tại Đại học Cornell năm 1955 với luận văn về chủ nghĩa tự sát trong văn học của William Faulkner và Virginia Woolf. Sau khi giảng dạy một thời gian, Morrison bắt đầu làm biên tập viên tại nhà xuất bản Random House từ năm 1965, nơi bà đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và xuất bản nhiều tác giả Mỹ gốc Phi quan trọng như Toni Cade Bambara, Gayl Jones và Angela Davis. Công việc biên tập không chỉ giúp Morrison hiểu sâu hơn về quá trình xuất bản mà còn kết nối bà với cộng đồng văn học Mỹ gốc Phi đang phát triển mạnh mẽ trong những năm 1960 và 1970, thời kỳ của phong trào Quyền công dân và phong trào Sức mạnh da đen.

Morrison bắt đầu viết tiểu thuyết vào cuối những năm 1960, với tác phẩm đầu tay The Bluest Eye (Đôi mắt xanh nhất, 1970) kể về một cô gái da đen trẻ tuổi khao khát có đôi mắt xanh theo chuẩn mực vẻ đẹp da trắng. Tiểu thuyết này khám phá tác động tàn khốc của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc lên tâm lý và lòng tự trọng của trẻ em da đen, đặt nền móng cho các chủ đề mà Morrison sẽ tiếp tục khám phá trong suốt sự nghiệp sáng tác. Sau đó, bà xuất bản Sula (1973), Song of Solomon (Bài ca của Solomon, 1977) và Tar Baby (Đứa con nhựa đường, 1981), mỗi tác phẩm đều nhận được sự đón nhận tích cực từ giới phê bình và độc giả. Tuy nhiên, chính với Beloved (Người yêu dấu, 1987) mà Morrison đạt đến đỉnh cao nghệ thuật và được công nhận rộng rãi như một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thời đại.

Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison 773 – thu vien, van hoc, nobel, nobel van hoc, nobel van hoc 1993, toni morrison, dien tu nobel van hoc, dien tu nobel, dien tu nobel van hoc 1993, dien tu van hoc 1993.
Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison.

Ngoài sáng tác tiểu thuyết, Toni Morrison còn là một học giả và giáo viên xuất sắc, giảng dạy tại nhiều trường đại học danh tiếng bao gồm Yale, Bard College và Princeton, nơi bà giữ chức Giáo sư danh dự Robert F. Goheen về Nhân văn từ năm 1989 đến khi nghỉ hưu năm 2006. Morrison đã viết nhiều bài tiểu luận quan trọng về văn học, chủng tộc và văn hóa Mỹ, đóng góp đáng kể vào lý thuyết phê bình văn học và nghiên cứu văn hóa. Bà cũng tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội và chính trị, đấu tranh cho công bằng chủng tộc và giới, và ủng hộ các nhà văn trẻ, đặc biệt là phụ nữ da đen. Cuộc đời và sự nghiệp của Morrison là minh chứng cho sức mạnh của nghệ thuật trong việc thách thức bất công xã hội và tôn vinh nhân phẩm con người.

Tái hiện ký ức và nỗi đau lịch sử

Beloved (Người yêu dấu, 1987) là kiệt tác của Toni Morrison và một trong những tiểu thuyết quan trọng nhất của văn học Hoa Kỳ thế kỷ hai mươi. Tác phẩm dựa trên câu chuyện có thật về Margaret Garner, một phụ nữ nô lệ đã giết con gái mình để tránh cho đứa trẻ phải trở lại kiếp sống nô lệ sau khi trốn thoát. Tiểu thuyết kể về Sethe, một cựu nô lệ sống ở Cincinnati sau Nội chiến, bị ám ảnh bởi hồn ma của đứa con gái mà bà đã giết chết nhiều năm trước. Khi một phụ nữ trẻ bí ẩn tên Beloved xuất hiện, Sethe tin rằng đó là sự tái sinh của con gái mình và cố gắng đền bù cho tội lỗi trong quá khứ. Tiểu thuyết khám phá những tổn thương tâm lý sâu xa của chế độ nô lệ, không chỉ đối với những người bị nô dịch mà còn đối với các thế hệ sau, những người phải sống với di sản đau đớn này.

Beloved được ca ngợi vì khả năng của Morrison trong việc tái hiện kinh nghiệm nô lệ không qua lăng kính của người da trắng mà qua góc nhìn và giọng nói của chính những người da đen. Bà không miêu tả người nô lệ như những nạn nhân thụ động mà như những con người đầy đủ với ý chí, tình yêu, nỗi đau và sự kiên cường phi thường. Ngôn ngữ của Morrison trong Beloved vừa thơ mộng vừa gai góc, kết hợp giữa hiện thực và yếu tố siêu nhiên, giữa quá khứ và hiện tại, tạo ra một tác phẩm đa tầng và phức tạp đòi hỏi sự tham gia tích cực của người đọc. Tiểu thuyết này đã giành giải Pulitzer cho Hư cấu năm 1988 và được coi là một trong những tác phẩm quan trọng nhất về di sản nô lệ trong văn học thế giới.

Ngoài Beloved, Morrison còn có nhiều tiểu thuyết xuất sắc khác như Jazz (1992), Paradise (Thiên đường, 1997), Love (Tình yêu, 2003) và A Mercy (Một ân huệ, 2008). Mỗi tác phẩm khám phá các khía cạnh khác nhau của kinh nghiệm Mỹ gốc Phi, từ thời kỳ nô lệ đến thời đại đương đại, từ nông thôn miền Nam đến thành phố phía Bắc. Morrison đặc biệt quan tâm đến kinh nghiệm của phụ nữ da đen, những người phải đối mặt với sự áp bức kép của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa nam quyền. Các nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết của bà thường là những người mạnh mẽ, phức tạp và đầy mâu thuẫn, phản ánh sự đa dạng và phong phú của kinh nghiệm sống thực tế. Ủy ban Nobel đánh giá cao khả năng của Morrison trong việc mang lại sự sống cho một khía cạnh thiết yếu của hiện thực Mỹ, khía cạnh đã bị bỏ qua hoặc bị bóp méo trong văn học chủ lưu trong nhiều thế kỷ.

Sức ảnh hưởng của Toni Morrison trên văn đàn thế giới và di sản văn học

Toni Morrison đã có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học Mỹ và văn học thế giới nói chung. Bà là một trong những nhà văn quan trọng nhất trong việc đưa văn học Mỹ gốc Phi từ lề vào trung tâm của văn học Mỹ, khẳng định rằng kinh nghiệm của người da đen không phải là một chủ đề đặc biệt hay ngoại biên mà là một phần thiết yếu của câu chuyện Mỹ. Thông qua các tác phẩm của mình, Morrison đã thách thức những khuôn mẫu và định kiến về người da đen trong văn học và văn hóa, tạo ra những nhân vật phức tạp và đa chiều phá vỡ những hình ảnh đơn giản hóa truyền thống. Bà cũng đã mở đường cho nhiều thế hệ nhà văn Mỹ gốc Phi sau này, những người tiếp tục khám phá và mở rộng biên giới của văn học da đen.

Morrison cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình lý thuyết phê bình văn học hậu thuộc địa và nghiên cứu chủng tộc. Các bài tiểu luận và bài giảng của bà về văn học, đặc biệt là tập Playing in the Dark: Whiteness and the Literary Imagination (Chơi trong bóng tối: Sự trắng da và trí tưởng tượng văn học, 1992), đã phân tích cách thức mà hình ảnh người da đen được sử dụng trong văn học Mỹ da trắng để xác định và củng cố bản sắc da trắng. Morrison cho thấy rằng sự hiện diện và vắng mặt của người da đen trong văn học Mỹ không phải là ngẫu nhiên mà là một phần của quá trình xây dựng bản sắc quốc gia và văn hóa. Những phân tích này đã có ảnh hưởng sâu rộng đến cách chúng ta đọc và hiểu văn học Mỹ, cũng như cách chúng ta suy nghĩ về mối quan hệ giữa chủng tộc, quyền lực và văn hóa.

Di sản của Toni Morrison không chỉ là những tiểu thuyết xuất sắc mà còn là cam kết suốt đời của bà với công bằng xã hội và tôn vinh văn hóa Mỹ gốc Phi. Bà đã chứng minh rằng văn học có thể là một công cụ mạnh mẽ để tái tạo lịch sử, chữa lành tổn thương tâm lý và xây dựng bản sắc tập thể. Sau cái chết của bà năm 2019, Morrison được tưởng nhớ như một trong những giọng nói văn học quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi, một nhà văn đạt giải Nobel văn học đã thay đổi cách chúng ta hiểu về lịch sử, văn hóa và bản sắc Mỹ.

Diễn từ Nobel Văn học 1993, Toni Morrison

Một thuở nọ có một bà lão. Mù nhưng khôn ngoan. Hay đó là một ông lão? Có lẽ là một đạo sư. Hoặc một griot ru những đứa trẻ hiếu động. Tôi đã nghe câu chuyện này, hoặc một câu chuyện gần như y hệt, trong truyền thuyết của nhiều nền văn hóa.

Một thuở nọ có một bà lão. Mù. Khôn ngoan.

Trong dị bản mà tôi biết, người phụ nữ ấy là con gái của nô lệ, da đen, người Mỹ, và sống một mình trong một ngôi nhà nhỏ ngoài thị trấn. Danh tiếng về sự khôn ngoan của bà là vô song và không cần phải nghi ngờ. Trong cộng đồng của mình, bà vừa là luật pháp vừa là sự vượt thoát khỏi luật pháp ấy. Sự tôn kính dành cho bà và niềm kính sợ mà bà gợi lên lan vượt khỏi khu xóm của bà, đến tận những nơi xa xôi, đến thành phố nơi trí tuệ của các nhà tiên tri thôn dã là nguồn cơn của nhiều trò giễu cợt.

Một ngày kia, bà được một nhóm người trẻ đến thăm, dường như quyết tâm bác bỏ khả năng thấu thị của bà và vạch trần bà như một kẻ lừa đảo như họ vẫn tin. Kế hoạch của họ rất đơn giản: họ bước vào nhà bà và đặt ra một câu hỏi mà câu trả lời hoàn toàn dựa trên sự khác biệt giữa bà và họ, một khác biệt mà họ xem là một khuyết tật trầm trọng: sự mù lòa của bà. Họ đứng trước mặt bà, và một người trong số họ nói: Bà lão, trong tay tôi đang cầm một con chim. Bà hãy nói cho tôi biết nó còn sống hay đã chết.

Bà không trả lời, và câu hỏi được lặp lại. Con chim tôi đang cầm là sống hay chết?

Bà vẫn không trả lời. Bà mù và không thể nhìn thấy những vị khách của mình, càng không thể thấy thứ họ đang cầm trong tay. Bà không biết màu da, giới tính hay quê quán của họ. Bà chỉ biết động cơ của họ.

Sự im lặng của bà lão kéo dài đến mức những người trẻ khó lòng kìm nén tiếng cười.

Cuối cùng bà lên tiếng, giọng bà mềm mại nhưng nghiêm khắc. Tôi không biết, bà nói. Tôi không biết con chim các anh đang cầm là chết hay sống, nhưng điều tôi biết là nó đang ở trong tay các anh. Nó ở trong tay các anh.

Câu trả lời của bà có thể được hiểu như sau: nếu nó đã chết, thì hoặc các anh đã tìm thấy nó trong trạng thái đó, hoặc chính các anh đã giết nó. Nếu nó còn sống, các anh vẫn có thể giết nó. Việc nó tiếp tục sống hay không là quyết định của các anh. Dù trong trường hợp nào, trách nhiệm đều thuộc về các anh.

Vì phô bày quyền lực của mình và sự bất lực của bà, những vị khách trẻ bị khiển trách, bị nhắc nhở rằng họ không chỉ chịu trách nhiệm cho hành vi chế giễu mà còn cho sinh mệnh nhỏ bé đã bị hy sinh để đạt được mục đích ấy. Người phụ nữ mù chuyển sự chú ý khỏi những tuyên bố quyền lực sang chính công cụ mà qua đó quyền lực được thực thi.

Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison 545 – thu vien, van hoc, nobel, nobel van hoc, nobel van hoc 1993, toni morrison, dien tu nobel van hoc, dien tu nobel, dien tu nobel van hoc 1993, dien tu van hoc 1993.
Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison.

Sự suy đoán về việc con chim trong tay ấy có thể tượng trưng cho điều gì khác ngoài thân xác mong manh của chính nó luôn hấp dẫn tôi, nhưng đặc biệt hấp dẫn lúc này, khi tôi nghĩ về công việc đã đưa tôi đến với buổi hội tụ này. Vì thế tôi chọn đọc con chim như là ngôn ngữ, và người phụ nữ như là một nhà văn lão luyện. Bà lo lắng về cách ngôn ngữ mà bà mơ mộng bằng nó, ngôn ngữ được trao cho bà từ lúc sinh ra, đang bị sử dụng, bị đem ra phục vụ, thậm chí bị tước đoạt khỏi bà vì những mục đích đen tối nào đó. Là một nhà văn, bà nghĩ về ngôn ngữ vừa như một hệ thống, vừa như một sinh thể mà người ta có thể kiểm soát, nhưng trên hết là như một tác nhân – một hành động có hệ quả. Vì vậy câu hỏi mà lũ trẻ đặt ra: Nó sống hay chết? không hề phi thực, bởi bà nghĩ về ngôn ngữ như một thứ có thể chết, có thể bị xóa bỏ; chắc chắn là đang bị đe dọa và chỉ có thể được cứu vãn bằng một nỗ lực của ý chí. Bà tin rằng nếu con chim trong tay những vị khách của bà đã chết, thì những người trông giữ nó phải chịu trách nhiệm cho cái xác ấy. Với bà, một ngôn ngữ chết không chỉ là ngôn ngữ không còn được nói hay viết nữa, mà là một ngôn ngữ cứng đờ, tự mãn chiêm ngưỡng chính sự tê liệt của mình. Giống như ngôn ngữ nhà nước, bị kiểm duyệt và đi kiểm duyệt. Tàn nhẫn trong nhiệm vụ cảnh sát của mình, nó không có khát vọng hay mục đích nào khác ngoài việc duy trì không gian tự do cho thứ tự ái gây mê của chính nó, cho sự độc quyền và thống trị của chính nó. Dù hấp hối, nó không phải là vô tác động, bởi nó chủ động cản trở trí tuệ, làm đình trệ lương tâm, kìm hãm tiềm năng con người. Không tiếp nhận sự chất vấn, nó không thể hình thành hay dung nạp những ý tưởng mới, không thể định hình những suy nghĩ khác, không thể kể một câu chuyện khác, không thể lấp đầy những khoảng lặng khó hiểu. Ngôn ngữ chính thống được rèn giũa để hợp thức hóa sự ngu dốt và bảo tồn đặc quyền là một bộ áo giáp được đánh bóng đến mức chói lóa, một cái vỏ mà hiệp sĩ đã rời bỏ từ lâu. Vậy mà nó vẫn ở đó: câm lặng, săn mồi, ủy mị. Khơi dậy sự tôn kính phấn khích nơi học sinh, cung cấp nơi trú ẩn cho bạo chúa, triệu hồi những ký ức giả về sự ổn định và hòa hợp trong công chúng.

Bà tin chắc rằng khi ngôn ngữ chết đi, vì sự cẩu thả, bỏ bê, thờ ơ và thiếu trân trọng, hoặc bị giết bởi mệnh lệnh, thì không chỉ bản thân bà, mà tất cả những người sử dụng và tạo tác đều phải chịu trách nhiệm cho cái chết ấy. Ở đất nước của bà, trẻ em đã cắn đứt lưỡi mình và dùng đạn thay thế để lặp lại tiếng nói của sự không lời, của ngôn ngữ tàn phế và làm tàn phế, của thứ ngôn ngữ mà người lớn đã hoàn toàn từ bỏ như một công cụ để vật lộn với ý nghĩa, để chỉ dẫn, hay để bày tỏ tình yêu. Nhưng bà biết rằng tự sát bằng lưỡi không chỉ là lựa chọn của trẻ em. Nó phổ biến nơi những nguyên thủ quốc gia ấu trĩ và những con buôn quyền lực, những kẻ có ngôn ngữ bị tẩy rỗng đến mức họ không còn tiếp cận được những gì còn sót lại của bản năng nhân tính, bởi họ chỉ nói với những kẻ tuân phục, hoặc nói để ép buộc sự tuân phục.

Sự cướp bóc có hệ thống đối với ngôn ngữ có thể được nhận ra qua xu hướng của những kẻ sử dụng nó khi từ bỏ những phẩm chất tinh tế, phức hợp, mang tính đỡ đẻ của nó để chuyển sang đe dọa và khuất phục. Ngôn ngữ áp bức không chỉ đại diện cho bạo lực; nó chính là bạo lực; không chỉ đại diện cho giới hạn của tri thức; nó giới hạn tri thức. Dù đó là ngôn ngữ nhà nước che giấu hay thứ ngôn ngữ giả của truyền thông vô thức; dù đó là ngôn ngữ kiêu hãnh nhưng hóa đá của học viện hay ngôn ngữ khoa học bị dẫn dắt bởi hàng hóa; dù đó là ngôn ngữ ác độc của luật pháp không đạo đức, hay ngôn ngữ được thiết kế để xa lạ hóa các nhóm thiểu số, giấu sự cướp bóc chủng tộc của nó trong cái nháy mắt văn chương – nó phải bị khước từ, bị thay đổi và bị phơi bày. Đó là thứ ngôn ngữ uống máu, liếm láp sự mong manh, giấu đôi ủng phát xít của mình dưới những lớp váy phồng của sự đứng đắn và lòng yêu nước, khi nó không ngừng tiến về lợi nhuận cuối cùng và tâm trí đã cạn kiệt. Ngôn ngữ kỳ thị giới, ngôn ngữ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thần quyền – tất cả đều là những dạng điển hình của ngôn ngữ cảnh sát của quyền lực thống trị, và không thể, cũng không cho phép tri thức mới hay khuyến khích sự trao đổi ý tưởng lẫn nhau.

Người phụ nữ già ý thức rất rõ rằng không một lính đánh thuê trí thức nào, cũng không một kẻ độc tài tham lam nào, không một chính trị gia được mua chuộc hay một tên mị dân nào; không một nhà báo giả mạo nào sẽ bị thuyết phục bởi những suy nghĩ của bà. Sẽ luôn có, và sẽ còn có, những thứ ngôn ngữ khuấy động để giữ cho công dân có vũ trang và tiếp tục vũ trang; bị tàn sát và tiếp tục tàn sát trong các trung tâm thương mại, tòa án, bưu điện, sân chơi, phòng ngủ và đại lộ; thứ ngôn ngữ kích động, tưởng niệm, được dùng để che giấu nỗi thương xót và sự lãng phí của những cái chết không cần thiết. Sẽ còn có nhiều thứ ngôn ngữ ngoại giao hơn nữa để dung thứ cho cưỡng hiếp, tra tấn, ám sát. Có và sẽ còn có những thứ ngôn ngữ quyến rũ, biến dị, được thiết kế để bóp nghẹt phụ nữ, nhồi chặt cổ họng họ như những con ngỗng bị vỗ béo làm pa-tê bằng chính những lời không thể nói ra, những lời vượt rào của họ; sẽ còn nhiều hơn nữa thứ ngôn ngữ giám sát được ngụy trang thành nghiên cứu; thứ ngôn ngữ của chính trị và lịch sử được tính toán để làm cho nỗi đau khổ của hàng triệu người trở nên câm lặng; thứ ngôn ngữ được hào nhoáng hóa để kích thích những kẻ bất mãn và bị tước đoạt đi tấn công chính hàng xóm của mình; thứ ngôn ngữ giả-khoa-học kiêu ngạo được chế tác để nhốt những con người sáng tạo vào những chiếc lồng của mặc cảm thấp kém và tuyệt vọng.

Bên dưới sự hùng biện, vẻ hào nhoáng, những liên tưởng học thuật ấy, dù có kích động hay quyến rũ đến đâu, trái tim của thứ ngôn ngữ đó đang hấp hối, hoặc có lẽ đã ngừng đập từ lâu – nếu con chim đã chết sẵn rồi.

Bà đã suy nghĩ về việc lịch sử trí tuệ của bất kỳ ngành học nào có thể đã khác đi ra sao, nếu nó không khăng khăng đòi hỏi, hoặc bị ép buộc phải sa vào, sự lãng phí thời gian và sinh mạng mà những sự hợp lý hóa cho quyền lực thống trị và những biểu đạt của nó đòi hỏi – những diễn ngôn chết người của sự loại trừ, chặn đứng con đường nhận thức của cả kẻ loại trừ lẫn kẻ bị loại trừ.

Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison 266 – thu vien, van hoc, nobel, nobel van hoc, nobel van hoc 1993, toni morrison, dien tu nobel van hoc, dien tu nobel, dien tu nobel van hoc 1993, dien tu van hoc 1993.
Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison.

Sự khôn ngoan thông thường của câu chuyện Tháp Babel cho rằng sự sụp đổ ấy là một tai họa. Rằng chính sự xao lãng, hay gánh nặng của quá nhiều ngôn ngữ, đã dẫn đến kiến trúc thất bại của tòa tháp. Rằng một ngôn ngữ đơn khối duy nhất hẳn đã giúp việc xây dựng được nhanh hơn và thiên đường đã có thể đạt tới. Thiên đường của ai, bà tự hỏi. Và là thứ thiên đường nào? Có lẽ việc đạt tới Thiên đàng là quá sớm, hơi vội vàng, nếu không ai có thể dành thời gian để hiểu những ngôn ngữ khác, những quan điểm khác, những tự sự khác, chấm hết. Nếu họ đã làm được điều đó, thì thiên đường mà họ tưởng tượng có lẽ đã nằm ngay dưới chân họ. Phức tạp, đòi hỏi, đúng vậy, nhưng là một cái nhìn về thiên đường như là đời sống; không phải thiên đường như là hậu-đời-sống.

Bà không muốn để lại cho những vị khách trẻ ấn tượng rằng ngôn ngữ cần phải bị ép buộc sống chỉ để tồn tại. Sức sống của ngôn ngữ nằm ở khả năng phác họa đời sống thực, đời sống tưởng tượng và đời sống khả thể của những người nói, người đọc, người viết nó. Dù đôi khi sự cân bằng của nó nằm ở việc thay thế kinh nghiệm, nó không phải là sự thay thế cho kinh nghiệm. Nó uốn cong về phía nơi mà ý nghĩa có thể trú ngụ. Khi một Tổng thống Hoa Kỳ nghĩ về nghĩa địa mà đất nước mình đã trở thành, và nói rằng: Thế giới sẽ ít ghi nhớ, và sẽ không nhớ lâu những gì chúng ta nói ở đây. Nhưng nó sẽ không bao giờ quên những gì họ đã làm ở đây, những lời giản dị ấy trở nên đầy hứng khởi trong khả năng duy trì sự sống của chúng, bởi chúng từ chối gói gọn thực tại của sáu trăm nghìn người đàn ông đã chết trong một cuộc chiến tranh chủng tộc mang tính hủy diệt. Từ chối việc dựng đài tưởng niệm bằng lời, khinh miệt lời cuối cùng, sự tổng kết chính xác, thừa nhận quyền năng nghèo nàn của chúng ta trong việc thêm hay bớt, những lời ấy phát tín hiệu về sự nhún nhường trước tính không thể bị nắm bắt của sinh mệnh mà nó thương tiếc. Chính sự nhún nhường ấy làm bà xúc động, sự nhận biết rằng ngôn ngữ không bao giờ có thể, một lần và mãi mãi, sống xứng với đời sống. Và nó cũng không nên làm vậy. Ngôn ngữ không bao giờ có thể đóng đinh chế độ nô lệ, diệt chủng, chiến tranh. Và nó cũng không nên khao khát sự kiêu ngạo để làm được điều đó. Sức mạnh của nó, niềm hạnh phúc của nó, nằm ở sự vươn tới điều bất khả ngôn.

Dù là vĩ đại hay mảnh mai, đào sâu, bùng nổ, hay từ chối sự phong thánh; dù nó cười vang hay là một tiếng khóc không có bảng chữ cái, từ ngữ được chọn lựa, sự im lặng được lựa chọn, ngôn ngữ không bị xâm phạm, đều dâng trào về phía tri thức, chứ không phải về phía sự hủy diệt của tri thức. Nhưng ai lại không biết đến những tác phẩm văn chương bị cấm vì chúng chất vấn; bị mất uy tín vì chúng phê phán; bị xóa bỏ vì chúng là lựa chọn thay thế? Và có bao nhiêu người thực sự phẫn nộ trước ý nghĩ về một cái lưỡi tự bị tàn phá?

Công việc với từ ngữ là điều cao cả, bà nghĩ, bởi vì nó mang tính sinh thành; nó tạo ra ý nghĩa để bảo đảm cho sự khác biệt của chúng ta, sự khác biệt mang tính người của chúng ta – cách mà chúng ta không giống bất kỳ sự sống nào khác.

Chúng ta chết. Đó có thể là ý nghĩa của đời sống. Nhưng chúng ta làm ngôn ngữ. Đó có thể là thước đo của đời sống chúng ta.

Một thuở nọ, … những vị khách hỏi một bà lão một câu hỏi. Họ là ai, những đứa trẻ ấy? Họ đã hiểu gì từ cuộc gặp gỡ đó? Họ đã nghe thấy điều gì trong những lời cuối cùng ấy: Con chim nằm trong tay các anh? Một câu nói mở ra khả thể, hay một câu nói sập then cửa? Có lẽ điều bọn trẻ nghe được là: Đó không phải là vấn đề của tôi. Tôi già, là phụ nữ, là người da đen, là người mù. Trí tuệ mà tôi có bây giờ là ở chỗ tôi biết rằng tôi không thể giúp các anh. Tương lai của ngôn ngữ là của các anh.

Họ đứng đó. Giả sử rằng chẳng có gì trong tay họ cả thì sao? Giả sử chuyến viếng thăm ấy chỉ là một mưu mẹo, một trò đánh lừa để được nói chuyện, được xem trọng, như trước nay họ chưa từng được? Một cơ hội để ngắt lời, để xâm phạm thế giới người lớn, thứ sương độc của diễn ngôn về họ, thay cho họ, nhưng chưa bao giờ nói với họ? Những câu hỏi khẩn thiết đang bị đặt cược, bao gồm cả câu hỏi mà họ đã hỏi: Con chim chúng tôi cầm là sống hay chết? Có lẽ câu hỏi ấy có nghĩa là: Có ai đó có thể nói cho chúng tôi biết thế nào là sống? Thế nào là chết? Không hề có trò lừa nào; không hề ngớ ngẩn. Một câu hỏi thẳng thắn, xứng đáng với sự chú ý của một bậc khôn ngoan. Một người già. Và nếu những người già và khôn, những người đã sống đời sống và đối mặt với cái chết, không thể mô tả được cả hai, thì ai có thể?

Nhưng bà không làm vậy; bà giữ kín bí mật của mình; giữ ý kiến tốt đẹp về chính mình; giữ những lời phán đoán huyền ngôn; giữ nghệ thuật của mình mà không có cam kết. Bà giữ khoảng cách, củng cố nó và rút lui vào sự đơn nhất của cô lập, trong không gian tinh vi và đặc quyền.

Không có gì, không một lời nào, theo sau tuyên bố chuyển giao của bà. Sự im lặng ấy sâu thẳm, sâu hơn cả ý nghĩa có thể rút ra từ những lời bà đã nói. Nó run rẩy, sự im lặng ấy, và bọn trẻ, bực bội, lấp đầy nó bằng thứ ngôn ngữ được phát minh ngay tại chỗ.

Không có lời nói nào sao, chúng hỏi bà, không có từ ngữ nào bà có thể trao cho chúng tôi để giúp chúng tôi vượt qua hồ sơ thất bại của bà sao? Vượt qua thứ giáo dục mà bà vừa ban cho chúng tôi, vốn không phải là giáo dục chút nào, bởi vì chúng tôi đang chú ý rất kỹ không chỉ đến những gì bà nói mà còn đến những gì bà đã làm? Đến bức tường mà bà đã dựng lên giữa lòng hào phóng và trí tuệ?

Chúng tôi không có con chim nào trong tay, sống hay chết. Chúng tôi chỉ có bà và câu hỏi quan trọng của chúng tôi. Phải chăng cái không có gì trong tay chúng tôi là thứ bà không thể chịu đựng nổi để chiêm nghiệm, thậm chí để đoán thử? Bà không nhớ mình đã từng trẻ, khi ngôn ngữ là phép màu không có ý nghĩa sao? Khi điều bà có thể nói thì lại không thể mang nghĩa? Khi cái vô hình là thứ mà trí tưởng tượng cố gắng nhìn thấy? Khi câu hỏi và khát khao có câu trả lời bùng cháy đến mức bà run rẩy vì cơn phẫn nộ của việc không biết?

Chúng tôi có phải bắt đầu ý thức bằng một trận chiến mà những nữ anh hùng và nam anh hùng như bà đã từng chiến đấu và thua cuộc, để lại cho chúng tôi chẳng có gì trong tay ngoài thứ mà bà tưởng tượng là có ở đó không? Câu trả lời của bà thì khéo léo, nhưng chính sự khéo léo ấy làm chúng tôi xấu hổ, và đáng lẽ cũng phải làm bà xấu hổ. Câu trả lời của bà khiếm nhã trong sự tự tán dương. Một kịch bản làm sẵn cho truyền hình, vô nghĩa nếu chẳng có gì trong tay chúng tôi.

Tại sao bà không vươn tay ra, chạm vào chúng tôi bằng những ngón tay mềm mại của bà, trì hoãn câu châm ngôn, bài học, cho đến khi bà biết chúng tôi là ai? Phải chăng bà khinh miệt trò đánh lừa của chúng tôi, phương thức hành động của chúng tôi, đến mức bà không thể thấy rằng chúng tôi đang bối rối trong việc làm sao để thu hút sự chú ý của bà? Chúng tôi còn trẻ. Chưa chín. Suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình, chúng tôi đã nghe rằng chúng tôi phải có trách nhiệm. Điều đó có thể có nghĩa gì trong thảm họa mà thế giới này đã trở thành; nơi mà, như một nhà thơ đã nói, chẳng có gì cần phải phơi bày vì mọi thứ đã trơ trẽn rồi? Di sản của chúng tôi là một sự xúc phạm. Bà muốn chúng tôi có đôi mắt mù lòa, trống rỗng của bà và chỉ nhìn thấy sự tàn nhẫn và tầm thường. Bà nghĩ chúng tôi ngu ngốc đến mức sẽ tiếp tục tự thề gian bằng hư cấu của quốc gia sao? Bà lấy quyền gì nói với chúng tôi về bổn phận khi chúng tôi đang đứng ngập thắt lưng trong độc tố của quá khứ của bà?

Bà tầm thường hóa chúng tôi và tầm thường hóa con chim không có trong tay chúng tôi. Không có bối cảnh nào cho đời sống của chúng tôi sao? Không có bài ca nào, không có văn chương, không có bài thơ đầy vitamin, không có lịch sử gắn liền với trải nghiệm nào mà bà có thể trao lại để giúp chúng tôi khởi đầu mạnh mẽ sao? Bà là người lớn. Người già. Người khôn ngoan. Hãy ngừng nghĩ đến việc giữ thể diện. Hãy nghĩ đến đời sống của chúng tôi và kể cho chúng tôi thế giới riêng biệt của bà. Hãy bịa ra một câu chuyện. Tự sự là cấp tiến, nó tạo ra chúng tôi ngay trong khoảnh khắc nó được tạo ra. Chúng tôi sẽ không trách bà nếu tầm với của bà vượt quá khả năng nắm bắt; nếu tình yêu đốt cháy lời nói của bà đến mức chúng sụp đổ trong ngọn lửa và chẳng còn lại gì ngoài vết bỏng của chúng. Hoặc nếu, với sự dè dặt của đôi tay một bác sĩ phẫu thuật, lời nói của bà chỉ khâu lại những chỗ mà máu có thể chảy ra. Chúng tôi biết bà không bao giờ có thể làm điều đó cho đúng – một lần và mãi mãi. Đam mê không bao giờ là đủ; kỹ năng cũng vậy. Nhưng hãy thử. Vì chúng tôi và vì bà, hãy quên tên bà ngoài phố; hãy kể cho chúng tôi thế giới đã là gì đối với bà trong những nơi tối tăm và trong ánh sáng. Đừng nói cho chúng tôi phải tin điều gì, phải sợ điều gì. Hãy cho chúng tôi thấy chiếc váy xòe rộng của niềm tin và mũi chỉ tháo tung cái màng bọc của nỗi sợ. Bà, bà lão được ban phúc bởi sự mù lòa, có thể nói thứ ngôn ngữ cho chúng tôi biết điều mà chỉ ngôn ngữ mới có thể: cách nhìn mà không cần hình ảnh. Chỉ có ngôn ngữ mới bảo vệ chúng tôi khỏi nỗi kinh hoàng của những thứ không tên. Chỉ có ngôn ngữ mới là sự thiền định.

Hãy kể cho chúng tôi thế nào là làm phụ nữ để chúng tôi biết thế nào là làm đàn ông. Điều gì chuyển động ở bên lề. Thế nào là không có nhà ở nơi này. Bị trôi dạt khỏi nơi duy nhất mà mình từng biết. Thế nào là sống ở rìa những thị trấn không thể chịu đựng nổi sự hiện diện của bà.

Hãy kể cho chúng tôi về những con tàu bị xua đuổi khỏi bờ vào dịp Lễ Phục Sinh, nhau thai nằm trên một cánh đồng. Hãy kể cho chúng tôi về một toa xe chở đầy nô lệ, họ đã hát khẽ đến mức hơi thở của họ không thể phân biệt được với tuyết rơi như thế nào. Họ biết, chỉ từ dáng co rụt của bờ vai gần nhất, rằng điểm dừng kế tiếp sẽ là điểm dừng cuối cùng. Họ đã nghĩ đến hơi ấm, rồi đến mặt trời, với hai bàn tay chắp lại trong bộ phận sinh dục của mình. Ngẩng khuôn mặt lên như thể mặt trời đang ở đó để được lấy đi. Quay mình như thể nó đang ở đó để được lấy đi. Họ dừng lại ở một quán trọ. Người đánh xe và phụ tá bước vào trong với chiếc đèn, để lại họ ngân nga trong bóng tối. Hơi thở rỗng của con ngựa bốc hơi vào tuyết dưới móng guốc, tiếng xì và tan chảy của nó là niềm ghen tị của những nô lệ đang đông cứng.

Cánh cửa quán trọ mở ra: một cô gái và một cậu bé bước ra khỏi ánh sáng. Họ trèo lên thùng xe. Cậu bé sẽ có súng trong ba năm nữa, nhưng bây giờ cậu mang theo một chiếc đèn và một bình táo nóng. Họ chuyền nó từ miệng này sang miệng khác. Cô gái đưa bánh mì, những miếng thịt và một thứ nữa: một cái nhìn thẳng vào mắt người mà cô phục vụ. Một phần giúp cho mỗi người đàn ông, hai phần cho mỗi người đàn bà. Và một cái nhìn. Họ nhìn lại. Điểm dừng kế tiếp sẽ là điểm dừng cuối cùng. Nhưng không phải điểm này. Điểm này được sưởi ấm.

Khi bọn trẻ nói xong, sự yên lặng lại bao trùm, cho đến khi người phụ nữ phá vỡ nó.

Cuối cùng, bà nói, bây giờ tôi tin các anh. Tôi tin các anh với con chim không có trong tay các anh, bởi vì các anh đã thực sự bắt được nó. Hãy nhìn xem. Thật đẹp biết bao, điều mà chúng ta đã làm – cùng nhau.

Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison 155 – thu vien, van hoc, nobel, nobel van hoc, nobel van hoc 1993, toni morrison, dien tu nobel van hoc, dien tu nobel, dien tu nobel van hoc 1993, dien tu van hoc 1993.
Diễn từ Nobel Văn học 1993 – Toni Morrison.
0%

Chuyên mục dien-tu-van-hoc-1993

Chuyên mục thu-vien

Trồng một nụ cười | Chương 01

Trồng một nụ cười | Chương 01

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sáng lập Làng Mai, truyền cảm hứng Phật giáo dấn thân, chánh niệm, giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc, hòa hợp thiên nhiên.

Xem chi tiết Trồng một nụ cười | Chương 01
Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tố Hữu (1920 – 2002) là một trong những nhà thơ cách mạng vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX, người đã gắn bó trọn đời với cách mạng.

Xem chi tiết Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu
Gieo trồng hạnh phúc | Chương 15

Gieo trồng hạnh phúc | Chương 15

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sáng lập Làng Mai, truyền cảm hứng Phật giáo dấn thân, chánh niệm, giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc, hòa hợp thiên nhiên.

Xem chi tiết Gieo trồng hạnh phúc | Chương 15
Một cái chết vô can

Một cái chết vô can

Abe Kôbô là một trong những nhà văn hậu chiến Nhật Bản thế hệ Shôwa 30 (từ năm 1955 trở đi) có khuynh hướng đi tìm một thủ pháp mới.

Xem chi tiết Một cái chết vô can
Gián điệp mạng | Chương 03

Gián điệp mạng | Chương 03

Gián điệp mạng kể về nhà khoa học chuyển nghề thành chuyên gia mạng, truy tìm hacker tại Phòng Thí nghiệm Lawrence Berkeley, California, Mỹ.

Xem chi tiết Gián điệp mạng | Chương 03
Những bài học nông thôn

Những bài học nông thôn

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn đương đại với nhiều góc nhìn mới, táo tạo về con người, số phận. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Những bài học nông thôn.

Xem chi tiết Những bài học nông thôn
An trú trong hiện tại | Chương 08

An trú trong hiện tại | Chương 08

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, sáng lập Làng Mai, truyền cảm hứng Phật giáo dấn thân, chánh niệm, giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc, hòa hợp thiên nhiên.

Xem chi tiết An trú trong hiện tại | Chương 08

Chuyên mục nobel-van-hoc-1993

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhavanvn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ