Trung tâm phát triển văn hóa đọc Nhà văn

Thất thoát tri thức bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam

Phân tích ngôn ngữ như kho lưu trữ tri thức dân gian, thực trạng suy giảm của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và những gì mất theo khi ngôn ngữ tắt tiếng.

59 phút đọc.

0 lượt xem.

Cụ Ya Ly, 87 tuổi, ngồi bên đống lửa nhỏ trong căn nhà ở bản Tắk Pổ, Kon Tum, và nhìn về phía những ngọn núi xa xăm. Ở tuổi này, cụ là một trong tám người cuối cùng còn nói thông thạo tiếng Rơ Măm – một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn–Khmer đang trên bờ vực tuyệt chủng. Cụ không có ai để nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ mỗi ngày nữa. Khi được hỏi điều đó có buồn không, cụ trả lời bằng tiếng Việt, chậm rãi: Không phải buồn. Là như mất đi một phần của mắt. Mình vẫn thấy, nhưng thấy ít hơn. Câu trả lời của cụ Ya Ly chứa đựng điều mà các nhà ngôn ngữ học mất nhiều thập kỷ để chứng minh bằng dữ liệu: ngôn ngữ không phải chỉ là công cụ để nói, mà là phương tiện để nhìn. Mỗi ngôn ngữ mã hóa một cách phân loại thực tại, một hệ thống quan sát thiên nhiên và con người được tinh lọc qua hàng thế hệ. Khi một ngôn ngữ biến mất, không chỉ những từ ngữ mất đi – cả một phương thức tư duy đặc thù, không thể dịch thuật trọn vẹn và không thể tái tạo, cũng tan vào im lặng. Bài viết này khảo sát điều đó: không chỉ bao nhiêu ngôn ngữ đang mất mà chúng ta đang mất đi điều gì theo.

Mở đầu

Trong căn nhà nhỏ ở bản Tắk Pổ, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum, cụ Ya Ly ngồi bên đống lửa nhỏ, ánh mắt buồn bã nhìn về phía những ngọn núi xa xăm. Ở tuổi 87, cụ là một trong 8 người cuối cùng còn nói thông thạo tiếng Rơ Măm – một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn – Khmer đang trên bờ vực tuyệt chủng. Theo báo cáo của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam năm 2022, tiếng Rơ Măm hiện chỉ còn khoảng 8 người sử dụng thành thạo, tất cả đều trên 70 tuổi. Cụ Ya Ly tâm sự: khi tôi còn nhỏ, cả bản đều nói tiếng Rơ Măm. Bây giờ, tôi không còn ai để trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ nữa.

Câu chuyện của cụ Ya Ly không phải là trường hợp cực đoan hay đơn lẻ. Theo ước tính của UNESCO, cứ mỗi hai tuần lại có một ngôn ngữ trên thế giới biến mất mãi mãi – và hơn 3.000 ngôn ngữ đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có nhiều ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số tại Việt Nam. Với 54 dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ, Việt Nam sở hữu một bức tranh ngôn ngữ đa dạng và phong phú bậc nhất Đông Nam Á. Nhưng đằng sau sự đa dạng ấy là một hiện thực đáng lo ngại: nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang suy giảm với tốc độ ngày càng nhanh, và quá trình đó kéo theo sự biến mất của cả một vũ trụ tri thức, giá trị và cách nhìn nhận thế giới không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác.

Ngôn ngữ không phải chỉ là công cụ giao tiếp. Đó là phương tiện mà qua đó một cộng đồng kiến tạo và truyền tải toàn bộ tri thức, ký ức và bản sắc của mình qua nhiều thế hệ. Khi một ngôn ngữ tắt tiếng, không chỉ những từ ngữ biến mất – một phương thức độc đáo để hiểu và diễn giải thế giới cũng vĩnh viễn mất theo. Bài viết này đi sâu vào mối quan hệ không thể tách rời giữa ngôn ngữ và văn hóa, phân tích thực trạng suy giảm của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam, nhận diện những nguyên nhân căn bản và đặt câu hỏi về những gì còn có thể làm trước khi quá muộn.

Ngôn ngữ – vùng lưu trữ ký ức và tri thức dân gian

Để hiểu được mức độ mất mát thực sự khi một ngôn ngữ bản địa biến mất, cần vượt ra ngoài cách nhìn thông thường về ngôn ngữ như một hệ thống ký hiệu hay một công cụ truyền đạt thông tin. Mỗi ngôn ngữ là một thế giới quan hoàn chỉnh – một cách phân loại thực tại, một hệ thống mã hóa tri thức và một kho lưu trữ ký ức tập thể được tinh lọc qua hàng nghìn năm trải nghiệm cộng đồng. Sự biến mất của một ngôn ngữ, vì vậy, không khác gì sự cháy rụi của một thư viện mà không có bản sao nào được lưu giữ ở nơi khác.

Tục ngữ, lời hát, câu chuyện – mọi thứ sống trong ngôn ngữ

Khi bà A Chiếm, một trong những người cuối cùng còn nói thông thạo tiếng Arem ở Quảng Bình, hát lên những câu hát cổ trong một buổi ghi âm với các nhà nghiên cứu, đó không chỉ là âm điệu của một người già mà còn là tiếng vọng cuối cùng của cả một nền văn hóa đang lụi tàn. Bà tâm sự: tiếng Arem có những từ miêu tả âm thanh của rừng mà không ngôn ngữ nào khác có thể diễn tả chính xác. Trong tiếng Arem, có hơn 20 từ khác nhau để mô tả các loại mưa – từ krôl (mưa phùn nhẹ khi sáng sớm) đến proh (mưa lớn kèm gió mạnh từ phía tây). Mỗi từ không chỉ là tên gọi của một hiện tượng thời tiết mà còn gắn liền với một mùa vụ canh tác cụ thể, với những kinh nghiệm sống còn trong rừng sâu và với những nghi lễ liên quan đến chu kỳ tự nhiên. Khi những từ đó mất đi, không chỉ tên gọi bị mất – cả một hệ thống quan sát và ứng xử với tự nhiên tích lũy qua hàng trăm năm cũng tan biến theo.

Tương tự, trong tiếng Dao đỏ ở vùng cao Tây Bắc, các bài páo dung không chỉ là những khúc hát giao duyên. Cô Lý Thị Mai, giáo viên người Dao tại Sa Pa, đã dành gần 10 năm sưu tầm và ghi chép lại những bài hát truyền thống này: trong một bài páo dung có thể chứa đựng công thức pha chế thuốc từ 15 đến 20 loại thảo dược khác nhau, với tỷ lệ, thời điểm thu hái và cách bào chế cụ thể. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt hoặc tiếng Anh, rất nhiều chi tiết kỹ thuật bị mất đi vì không có từ tương đương. Điều này chỉ ra một thực tế sâu sắc mà thường bị bỏ qua trong các cuộc thảo luận về bảo tồn ngôn ngữ: ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền tải tri thức mà bản thân nó đã là một phần không thể tách rời của tri thức đó. Cấu trúc ngữ pháp, hệ thống từ vựng và những cách diễn đạt đặc thù của mỗi ngôn ngữ mã hóa những phương thức hiểu biết về thế giới không thể dịch thuật trọn vẹn sang ngôn ngữ khác mà không mất đi điều gì đó quan trọng.

Câu chuyện cổ tích và truyện dân gian trong các ngôn ngữ bản địa là nơi lưu giữ những giá trị đạo đức, triết lý sống và lịch sử cộng đồng được mã hóa qua nhiều thế hệ. Đối với người HMông, những câu chuyện về nguồn gốc vũ trụ được kể bằng ngôn ngữ riêng với từ vựng đặc biệt chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh tâm linh. Già làng Vàng A Chứ ở Hà Giang từng nhấn mạnh: chúng tôi có những từ chỉ dùng trong lễ cúng, trong kể chuyện về thần thánh. Những từ này không dùng trong đời thường và khó có thể dịch sang ngôn ngữ khác. Khi người già mất đi, những từ này cũng mất theo. Ngôn ngữ nghi lễ – tầng ngôn ngữ sâu nhất và phong phú nhất về mặt văn hóa – là thứ dễ bị mất trước nhất trong quá trình suy giảm ngôn ngữ, bởi nó đòi hỏi không chỉ kiến thức ngôn ngữ mà còn cả sự thấm nhuần bối cảnh văn hóa tâm linh không thể học qua sách vở.

Ngôn ngữ là cách nhìn thế giới – mỗi tiếng nói là một bản đồ văn hóa

Khi nhà ngôn ngữ học Trần Trí Dõi lần đầu tiên nghiên cứu về ngôn ngữ Rục – một trong những ngôn ngữ có số người nói ít nhất tại Việt Nam – ông đã bị cuốn hút bởi cách người Rục phân loại thế giới tự nhiên. Trong tiếng Rục, thay vì phân biệt đơn giản giữa cây và động vật như nhiều ngôn ngữ khác, có một hệ thống phân loại phức tạp dựa trên mối quan hệ giữa sinh vật với con người, với hơn 12 danh mục khác nhau chỉ trong lĩnh vực thảo dược. Hệ thống phân loại đó không phải là sự tùy tiện ngôn ngữ – đó là sự kết tinh của hàng thế kỷ quan sát và tương tác với môi trường tự nhiên, được tổ chức theo một logic nội tại phản ánh triết lý sống và hệ giá trị của cộng đồng.

Cấu trúc ngữ pháp của mỗi ngôn ngữ cũng ảnh hưởng đến cách người nói nhận thức thời gian và không gian theo những cách sâu sắc hơn nhiều so với những gì chúng ta thường nghĩ. Trong tiếng Thái Đen ở Tây Bắc, thời gian được diễn đạt không theo mô hình tuyến tính như nhiều ngôn ngữ phương Tây mà theo chu kỳ nông nghiệp và thiên nhiên. Những cách diễn đạt như khau khít khoai (thời điểm khoai chín) hay nặm tát (mùa nước cạn) phản ánh một cách hiểu về thời gian gắn liền với nhịp tự nhiên, với sự phụ thuộc và tương tác sâu sắc giữa con người và môi trường. Nhà ngôn ngữ học người Đức Wilhelm von Humboldt (1767 – 1835) đã đề xuất từ thế kỷ XIX rằng mỗi ngôn ngữ không chỉ là công cụ để biểu đạt tư tưởng mà còn định hình tư tưởng theo những cách nhất định. Luận điểm đó – được phát triển sau này thành giả thuyết Sapir – Whorf về tương đối ngôn ngữ học – cho thấy khi một ngôn ngữ biến mất, không chỉ một phương tiện giao tiếp mất đi mà còn một phương thức tư duy đặc thù, một cách đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời về thế giới không còn tồn tại nữa.

Nghiên cứu của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lợi về ngôn ngữ Mường cho thấy người Mường có những thuật ngữ riêng để mô tả các sắc thái màu xanh của rừng núi, với hơn 15 từ khác nhau cho màu xanh lá tùy thuộc vào độ sáng, độ ẩm và thời điểm trong ngày. Sự phong phú từ vựng này không phải là sự xa xỉ ngôn ngữ – đó là bằng chứng của mối quan hệ gắn bó sâu sắc giữa cộng đồng người Mường với môi trường rừng núi của họ, mỗi sắc thái màu sắc tương ứng với một trạng thái cụ thể của rừng mang những ý nghĩa thực tiễn về thời tiết, mùa vụ và điều kiện sinh sống. Mỗi từ ngữ như vậy là một mảnh ghép trong tấm bản đồ văn hóa vô hình định hình cách cộng đồng đó cảm nhận, phân loại và tương tác với thế giới tự nhiên quanh mình. Khi những từ đó mất đi, không chỉ bản đồ thiếu đi những chi tiết quan trọng – khả năng đọc bản đồ theo cách đó cũng dần biến mất.

Ngôn ngữ như hệ thống lưu trữ tri thức tích lũy qua hàng nghìn năm

Người Raglai ở Ninh Thuận, với lịch sử gắn bó lâu đời với biển và rừng núi, có một kho từ vựng phong phú liên quan đến các loài sinh vật biển và đặc tính của chúng. Nhà dân tộc học Phan Thị Yến Tuyết đã ghi nhận hơn 200 từ trong tiếng Raglai mô tả các loài cá biển khác nhau, kèm theo kiến thức về tập tính, mùa sinh sản và cách đánh bắt phù hợp. Một ngư dân Raglai cao tuổi có thể nhận biết gần 50 loài cá chỉ dựa vào hình dáng của sóng khi chúng bơi dưới mặt nước – và mỗi loài có tên gọi riêng, kèm theo những câu chuyện và điển tích về cách chúng xuất hiện trong văn hóa Raglai. Đáng tiếc, nhiều ngư dân trẻ hiện nay chỉ còn nhớ khoảng 15 đến 20% số từ vựng này. Điều đó không chỉ là mất mát ngôn ngữ – đó là mất mát của một hệ thống tri thức về hệ sinh thái biển tích lũy qua hàng nghìn năm, một hệ thống mà ngay cả các nghiên cứu khoa học hiện đại cũng chưa chắc đã ghi lại được đầy đủ.

Người Cơ Tu ở miền Trung Việt Nam có một hệ thống phân loại động thực vật đặc biệt dựa trên mối quan hệ sinh thái mà khoa học phương Tây chỉ mới bắt đầu nhận ra tầm quan trọng trong vài thập niên gần đây. Già làng A Lăng Hươl ở huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam chia sẻ: trong tiếng Cơ Tu, chúng tôi không chỉ đặt tên cho từng loài cây riêng lẻ, mà còn có tên gọi cho cả nhóm cây thường mọc cạnh nhau, cho biết mối quan hệ cộng sinh giữa chúng. Nhóm từ krung aviêng không chỉ là tên một loài cây cụ thể mà là cách gọi cho cả một tổ hợp sinh thái gồm một loài cây chính và các loài thực vật phụ thuộc mọc quanh gốc. Hệ thống phân loại theo quan hệ sinh thái này phản ánh một triết lý về sự hài hòa và tương tác trong tự nhiên mà khoa học sinh thái học hiện đại gọi là ecological knowledge – tri thức sinh thái. Điều đáng suy nghĩ là trong khi thế giới học thuật đang ngày càng nhận ra giá trị của loại tri thức này, những cộng đồng đang nắm giữ nó lại ngày càng ít có khả năng truyền tải nó cho thế hệ tiếp theo.

Ông A Chông, thầy thuốc người Bru – Vân Kiều tại Quảng Trị, ngồi giữa khu vườn thuốc nam của mình và thở dài: có những vị thuốc, tôi không biết gọi tên chúng thế nào bằng tiếng Việt. Trong tiếng Bru – Vân Kiều, chúng tôi có tên gọi riêng, kèm theo cách nhận biết, công dụng và cách bào chế. Loại cây mà ông gọi là a – rông pa – lái trong tiếng Bru – Vân Kiều không có tên tương đương trong hệ thống phân loại thực vật học hiện đại, bởi vì sự phân loại của người Bru – Vân Kiều dựa trên một hệ thống hoàn toàn khác – không phải là hình thái học mà là chức năng y học và bối cảnh sinh thái. Khi những người như ông A Chông qua đời mà không có người kế thừa tri thức đó, không chỉ một bài thuốc bị mất – cả một phương pháp luận y học dân gian, với những hiểu biết về mối quan hệ giữa con người, thực vật và môi trường sống, sẽ không bao giờ có thể được tái tạo.

Sự tàn phai của ngôn ngữ thiểu số tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em và hơn 100 ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hiện đại hóa nhanh chóng, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang suy giảm với tốc độ đáng báo động. Từ những ngôn ngữ chỉ còn vài người nói như tiếng Ơ Đu, Rơ Măm đến những ngôn ngữ lớn hơn nhưng đang mất dần không gian sử dụng trong đời sống hàng ngày, bức tranh ngôn ngữ học tại Việt Nam đang trải qua những biến đổi sâu sắc và nhiều chiều.

Ngôn ngữ chỉ còn vài người nói

Tình trạng của tiếng Rơ Măm ở Kon Tum là một trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất. Tại Nghệ An, tiếng Ơ Đu của dân tộc Ơ Đu – với dân số chỉ khoảng 400 người – hiện chỉ còn không quá 30 người, chủ yếu là người cao tuổi, còn nói được. Nhà nghiên cứu Trương Văn Món đã dành hơn 5 năm để ghi chép lại kho từ vựng và ngữ pháp của tiếng Ơ Đu: mỗi lần tôi quay lại làng, số người còn nói được tiếng Ơ Đu lại giảm đi. Họ ra đi mang theo cả một kho tàng văn hóa không thể thay thế. Đáng chú ý là trong số 30 người nói tiếng Ơ Đu còn lại, chỉ có khoảng 5 người thực sự thông thạo và hiểu biết sâu sắc về văn hóa Ơ Đu thông qua ngôn ngữ này – tức là những người có thể thực sự sử dụng ngôn ngữ để tiếp cận tri thức và ký ức tập thể của cộng đồng, không chỉ đơn thuần là giao tiếp cơ bản.

Không chỉ những ngôn ngữ có số lượng người nói cực ít mới đang đối mặt với nguy cơ biến mất. Ngôn ngữ Si La ở Lai Châu, dù có dân số khoảng 2.000 người, theo khảo sát của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lò Thị Mai tại Đại học Tây Bắc, chỉ còn khoảng 10% số người Si La còn sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ. Điều đặc biệt đáng lo ngại là trong số những người còn nói được tiếng Si La, không ai dưới 40 tuổi. Bà Mai nhấn mạnh: điều này đồng nghĩa với việc chỉ trong vài thập kỷ tới, ngôn ngữ này có thể hoàn toàn biến mất. Bà cũng ghi nhận rằng nhiều thuật ngữ liên quan đến nghề dệt truyền thống – một nghề thủ công đặc trưng của người Si La – đã không còn được người trẻ biết đến. Từ pikhơr (một kỹ thuật dệt hoa văn đặc biệt) hay talụm (công cụ làm mềm sợi) giờ chỉ còn xuất hiện trong ký ức của những nghệ nhân cao tuổi, và cùng với sự biến mất của những từ đó, cả một truyền thống nghề thủ công tinh tế đang mất đi người kế thừa.

Điều đặc biệt đáng suy nghĩ là tốc độ suy giảm của các ngôn ngữ bản địa không đồng đều và không phụ thuộc đơn giản vào quy mô dân số của cộng đồng. Những yếu tố như mức độ cô lập địa lý, sức mạnh của thiết chế văn hóa cộng đồng, mức độ di cư của thế hệ trẻ và sự hiện diện hay vắng mặt của hệ thống chữ viết chuẩn hóa đều đóng vai trò quan trọng. Trong khi một số ngôn ngữ có dân số nhỏ vẫn duy trì được sức sống nhờ những thiết chế cộng đồng mạnh mẽ, một số ngôn ngữ khác có dân số lớn hơn lại đang suy giảm nhanh hơn vì những áp lực kinh tế và xã hội đặc thù của cộng đồng đó.

Trẻ em không học, cha mẹ không dạy

Cô giáo Thị Riêng, người Khmer, đang dạy học sinh lớp 3 đọc chữ Khmer tại một trường tiểu học ở Trà Vinh. Dù cố gắng tạo không khí vui vẻ trong lớp, cô không khỏi buồn khi nhận ra nhiều em học sinh người Khmer lại gặp khó khăn với chính tiếng mẹ đẻ của mình: nhiều em ở nhà không nói tiếng Khmer nữa. Các bậc cha mẹ nghĩ rằng nói tiếng Việt sẽ giúp con cái họ hòa nhập tốt hơn và có nhiều cơ hội trong tương lai. Theo khảo sát tại 5 trường tiểu học ở vùng đồng bào Khmer Trà Vinh năm 2021, hơn 60% gia đình không sử dụng tiếng Khmer như ngôn ngữ chính trong giao tiếp hàng ngày – một con số đáng kinh ngạc đối với một trong những nhóm dân tộc có số lượng người nói đông đảo nhất tại Việt Nam.

Tại bản Pá Vạy, Yên Bái, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Phù Lá, già làng Chảo A Sáng bày tỏ lo lắng trong một buổi họp cộng đồng: tôi có 5 đứa cháu, không đứa nào nói được tiếng Phù Lá đầy đủ. Chúng chỉ biết vài từ cơ bản. Khi được hỏi lý do, con dâu ông, chị Chảo Thị Mẩy, giải thích thẳng thắn: chúng tôi muốn con mình nói tiếng Việt thật tốt để không bị thua thiệt khi đi học. Hơn nữa, tiếng Phù Lá không có chữ viết chính thức, làm sao chúng tôi dạy con một cách hệ thống được? Đây là tâm lý phổ biến của nhiều bậc cha mẹ thuộc các dân tộc thiểu số – một tâm lý xuất phát từ tình yêu thương và lo lắng thực sự cho tương lai của con cái, nhưng lại vô tình trở thành một trong những tác nhân mạnh mẽ nhất dẫn đến sự suy giảm ngôn ngữ bản địa.

Nghiên cứu của Viện Dân tộc học năm 2023 đã chỉ ra rằng có tới 80% phụ huynh người dân tộc thiểu số được khảo sát cho biết họ coi việc con em thành thạo tiếng Việt quan trọng hơn việc giữ gìn tiếng mẹ đẻ. Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương, người thực hiện nghiên cứu này, giải thích: nhiều phụ huynh từng trải qua khó khăn khi hòa nhập với xã hội đa số do rào cản ngôn ngữ, nên họ không muốn con mình phải trải qua điều tương tự. Tuy nhiên, cách tiếp cận này – chọn tiếng Việt thay vì tiếng mẹ đẻ thay vì cả hai – đang vô tình đẩy nhanh quá trình mai một của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Khi cha mẹ không dạy, trường học không coi trọng và xã hội không tạo động lực để sử dụng, các ngôn ngữ bản địa dần trở thành ngôn ngữ của người già và mất đi không gian sống trong đời sống hàng ngày. Nghịch lý của quá trình này là không ai trong số những người góp phần vào sự suy giảm ngôn ngữ cần phải cảm thấy có lỗi – họ đang hành động theo lý trí trong những điều kiện cụ thể mà họ đang sống. Nhưng tổng hợp của hàng triệu quyết định hợp lý cá nhân có thể dẫn đến những kết quả tập thể không ai muốn.

Thống kê về thực trạng suy giảm ngôn ngữ thiểu số

Cuộc khảo sát toàn quốc năm 2022 do Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện cho thấy bức tranh ngôn ngữ học tại Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng đáng lo ngại. Chỉ có khoảng 60% người dân tộc thiểu số sử dụng tiếng mẹ đẻ thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày, giảm mạnh so với tỷ lệ 85% được ghi nhận vào năm 2000. Đặc biệt, ở nhóm tuổi dưới 30, tỷ lệ này còn thấp hơn đáng kể, chỉ đạt khoảng 45%. Điều đáng chú ý hơn là khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các hoạt động có tính chất nghi lễ và tâm linh – vốn đòi hỏi vốn từ vựng phong phú và hiểu biết sâu sắc về văn hóa – còn thấp hơn nhiều, chỉ khoảng 25% ở nhóm tuổi dưới 30.

Một nghiên cứu chi tiết về tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ ở 10 dân tộc thiểu số có dân số lớn tại Việt Nam do Viện Ngôn ngữ học thực hiện năm 2023 đã chỉ ra những khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân tộc. Trong khi một số dân tộc như Thái, HMông, Dao vẫn duy trì được tỷ lệ sử dụng tiếng mẹ đẻ khá cao (trên 70% ở mọi lứa tuổi), thì một số dân tộc khác như Sán Dìu, Giáy, Sán Chay lại có tỷ lệ sử dụng tiếng mẹ đẻ thấp hơn nhiều, đặc biệt ở thế hệ trẻ (chỉ khoảng 30 đến 40%). Nghiên cứu cũng chỉ ra một xu hướng đáng chú ý: các dân tộc sống tập trung, có lịch sử văn hóa lâu đời và có hệ thống chữ viết riêng thường có tỷ lệ sử dụng tiếng mẹ đẻ cao hơn. Tiến sĩ Nguyễn Văn Long, chuyên gia ngôn ngữ học tại Viện Dân tộc học, nhận định: chúng ta đang chứng kiến một sự suy giảm nhanh chóng và đáng lo ngại trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ ở các cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở thế hệ trẻ. Điều đáng lo ngại hơn là sự suy giảm này không chỉ về số lượng người sử dụng mà còn về chất lượng và độ thông thạo. Nhiều người trẻ dân tộc thiểu số hiện nay có thể nói tiếng mẹ đẻ ở mức độ cơ bản cho giao tiếp hàng ngày, nhưng không đủ vốn từ vựng và hiểu biết văn hóa để tham gia vào các hoạt động nghi lễ truyền thống.

Một khía cạnh quan trọng cần nhìn nhận là khoảng cách giữa khả năng nghe hiểu và khả năng sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ. Khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Dân tộc và Miền núi năm 2024 cho thấy trong khi có tới 80% người dân tộc thiểu số ở mọi lứa tuổi có thể nghe hiểu tiếng mẹ đẻ ở mức độ cơ bản, thì chỉ có khoảng 50% có thể sử dụng thành thạo để giao tiếp, và chỉ khoảng 20% có thể đọc và viết được tiếng mẹ đẻ ở những dân tộc có chữ viết riêng. Ở nhóm dưới 20 tuổi, tỷ lệ đó là 65% nghe hiểu nhưng chỉ 35% sử dụng thành thạo và chỉ 10% có thể đọc và viết. Tiến sĩ Trần Thị Ngọc, nhà nhân học văn hóa tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, nhận định: khoảng cách giữa khả năng nghe hiểu và khả năng sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ là chỉ báo quan trọng về tình trạng ngôn ngữ đang bị đe dọa. Khi người dân có thể hiểu nhưng không thể nói hoặc viết thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình, đó là dấu hiệu cho thấy ngôn ngữ đó đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ ngôn ngữ sống sang ngôn ngữ lịch sử.

Những nguyên nhân căn bản của sự mai một

Sự suy giảm của các ngôn ngữ bản địa tại Việt Nam không phải là quá trình tự nhiên hay tất yếu. Đó là kết quả của những lực lượng xã hội, kinh tế và chính sách cụ thể đang vận hành theo những logic riêng của chúng. Nhận diện những nguyên nhân căn bản này – và phân biệt rõ giữa những nguyên nhân có thể can thiệp và những nguyên nhân nằm ngoài khả năng kiểm soát – là điều kiện tiên quyết để có thể tư duy về những giải pháp thực sự hiệu quả.

Áp lực kinh tế và chi phí cơ hội của việc giữ ngôn ngữ bản địa

Một trong những nguyên nhân căn bản nhất và ít được thừa nhận nhất của sự suy giảm ngôn ngữ bản địa là bất đối xứng kinh tế giữa ngôn ngữ đa số và ngôn ngữ thiểu số. Trong nền kinh tế thị trường, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp – nó còn là vốn nhân lực. Người thành thạo tiếng Việt và tiếng Anh có cơ hội kinh tế rộng hơn nhiều so với người chỉ thành thạo một ngôn ngữ thiểu số. Trong bối cảnh đó, việc đầu tư thời gian và công sức để duy trì tiếng mẹ đẻ có chi phí cơ hội thực sự: đó là thời gian có thể dùng để học những kỹ năng mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp hơn.

Điều làm cho áp lực kinh tế đặc biệt khó vượt qua là nó không tác động trực tiếp lên người nói ngôn ngữ bản địa mà tác động gián tiếp qua quyết định giáo dục của cha mẹ. Khi cha mẹ nhận ra rằng tiếng mẹ đẻ của mình có giá trị hạn chế trên thị trường lao động trong khi tiếng Việt là điều kiện tiên quyết để tiếp cận những cơ hội tốt nhất, họ đưa ra một quyết định hợp lý là ưu tiên tiếng Việt trong việc nuôi dưỡng con cái. Quyết định đó hoàn toàn có thể hiểu được và thậm chí là đúng đắn xét ở cấp độ cá nhân và gia đình – nhưng khi hàng triệu gia đình đưa ra cùng một quyết định trong cùng một giai đoạn, kết quả ở cấp độ cộng đồng là sự suy giảm nhanh chóng của ngôn ngữ bản địa theo một chiều hướng không dễ đảo ngược.

Vấn đề không phải là người dân tộc thiểu số không yêu quý ngôn ngữ của mình. Hầu hết họ đều trân trọng tiếng mẹ đẻ như một phần quan trọng của bản sắc và di sản văn hóa. Nhưng tình yêu và sự trân trọng thôi chưa đủ khi cấu trúc kinh tế không tạo ra những điều kiện để duy trì ngôn ngữ bản địa mà không phải chịu những thiệt thòi kinh tế đáng kể. Giải quyết sự suy giảm ngôn ngữ bản địa, vì vậy, đòi hỏi không chỉ những can thiệp văn hóa mà còn những thay đổi về cấu trúc kinh tế – tạo ra những không gian và cơ hội để ngôn ngữ bản địa có giá trị kinh tế thực sự, không chỉ là giá trị biểu tượng.

Hệ thống giáo dục và sự vắng mặt của ngôn ngữ bản địa

Hệ thống giáo dục là một trong những tác nhân mạnh mẽ nhất trong việc định hình thực trạng ngôn ngữ của các cộng đồng – theo cả hai hướng: có thể là lực lượng bảo tồn ngôn ngữ bản địa, hoặc là lực lượng thúc đẩy sự dịch chuyển ngôn ngữ về phía tiếng đa số. Tại Việt Nam, hệ thống giáo dục phổ thông vận hành chủ yếu bằng tiếng Việt, và trong khi có những chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số tại một số địa phương, những chương trình này thường đối mặt với nhiều thách thức về thiếu giáo viên được đào tạo bài bản, thiếu tài liệu giảng dạy chất lượng cao và thiếu sự đánh giá đúng mức trong hệ thống thi cử và xét tuyển.

Cô Lò Thị Mai, giáo viên một trường tiểu học ở Điện Biên, mô tả thực tế mà cô đang đối mặt hàng ngày: nhiều em học sinh người Thái, người HMông khi mới vào lớp 1 hầu như không biết tiếng Việt. Các em phải vừa học ngôn ngữ mới vừa học kiến thức, nên tiến độ học tập chậm hơn so với các em người Kinh. Điều đáng lo ngại là sau khi học tiếng Việt thành thạo, nhiều em lại dần quên đi tiếng mẹ đẻ của mình, đặc biệt là khả năng đọc và viết. Kết quả là các em không thể tiếp cận được với những tài liệu văn hóa, lịch sử của dân tộc mình viết bằng chữ cổ. Hiện tượng này tạo ra một thế hệ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là người nói bán ngôn ngữ (semi-speaker) – những người không hoàn toàn thành thạo trong bất kỳ ngôn ngữ nào, không đủ tiếng mẹ đẻ để tiếp cận di sản văn hóa của mình và không đủ tiếng Việt hay tiếng Anh để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường lao động.

Sự vắng mặt của ngôn ngữ bản địa trong hệ thống giáo dục không chỉ ảnh hưởng đến việc học ngôn ngữ – nó còn truyền đi một thông điệp ngầm về giá trị và vị thế. Khi ngôn ngữ của một cộng đồng không xuất hiện trong trường học, không được dùng trong văn bản hành chính và không có mặt trong các phương tiện truyền thông chính thống, người nói ngôn ngữ đó – đặc biệt là thế hệ trẻ đang hình thành bản sắc – học được rằng ngôn ngữ của mình là ngôn ngữ của không gian riêng tư và không chính thức, không phải ngôn ngữ của xã hội hiện đại và cơ hội tương lai. Thông điệp ngầm đó, được củng cố qua nhiều năm tháng, có tác động sâu sắc hơn nhiều so với bất kỳ sự khuyến khích hay phê phán công khai nào.

Toàn cầu hóa, đô thị hóa và sự thu hẹp không gian ngôn ngữ

Toàn cầu hóa và đô thị hóa tạo ra những áp lực bên ngoài đẩy nhanh quá trình suy giảm ngôn ngữ bản địa theo những cách không phải lúc nào cũng dễ nhận ra. Di cư từ nông thôn ra đô thị – như đã phân tích trong những bài trước của chuỗi nghiên cứu này – không chỉ làm giảm số lượng người nói ngôn ngữ bản địa trong cộng đồng gốc mà còn tạo ra những môi trường sử dụng ngôn ngữ mới ở đô thị nơi tiếng Việt là ngôn ngữ thống trị và tiếng dân tộc thiểu số hiếm khi được sử dụng. Qua một thế hệ, con cái của những người di cư thường chỉ biết tiếng Việt và có thể không còn nhận diện mình qua ngôn ngữ dân tộc của cha mẹ.

Ngay cả ở những cộng đồng không di cư, sự xâm nhập của truyền thông đại chúng – truyền hình, radio và đặc biệt là mạng xã hội qua điện thoại thông minh – đã tạo ra một áp lực mới và mạnh mẽ hướng đến tiếng Việt và tiếng Anh. Khi hầu hết nội dung trực tuyến mà người trẻ dân tộc thiểu số tiếp cận đều bằng tiếng Việt, và khi mạng xã hội trở thành không gian xã hội chính của thế hệ này, không gian sử dụng ngôn ngữ bản địa thu hẹp dần vào những tình huống giao tiếp ngày càng hẹp hơn. Tiến sĩ Lý Tùng Hiếu, nhà ngôn ngữ học người Nùng tại Đại học Dân tộc và Miền núi Thái Nguyên, mô tả quá trình này là hành chính hóa ngôn ngữ bản địa: tiếng mẹ đẻ dần trở thành ngôn ngữ chỉ được dùng trong những bối cảnh chính thức như lễ hội hay nghi lễ, trong khi mất dần vị trí trong đời sống giao tiếp hàng ngày. Đây là giai đoạn nguy hiểm nhất trong vòng đời của một ngôn ngữ đang suy giảm: khi ngôn ngữ chỉ còn tồn tại như ngôn ngữ nghi lễ mà không còn là ngôn ngữ của cuộc sống thường nhật, nó mất đi khả năng phát triển và thích ứng tự nhiên, dần trở nên cứng nhắc và xa lạ ngay cả với những người trong cộng đồng, và con đường dẫn đến sự biến mất hoàn toàn chỉ còn là vấn đề thời gian.

Những nỗ lực bảo tồn và những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Trước thực trạng suy giảm ngôn ngữ bản địa, nhiều nỗ lực bảo tồn đang được thực hiện ở nhiều cấp độ – từ những dự án nghiên cứu học thuật, những chương trình giáo dục thí điểm, đến những sáng kiến cộng đồng tự phát. Đánh giá trung thực những gì đang được làm – cả những điểm mạnh lẫn những giới hạn – là điều cần thiết để có thể xác định những gì còn thiếu và những hướng can thiệp có thể hiệu quả hơn.

Ghi chép và số hóa – những nỗ lực đang diễn ra

Trong hai thập niên qua, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam và một số tổ chức quốc tế như SIL International và Endangered Languages Project đã thực hiện nhiều dự án ghi chép các ngôn ngữ bản địa đang bị đe dọa. Những dự án này đã tạo ra được những kho lưu trữ quan trọng: từ điển, ngữ pháp và kho tài liệu ghi âm của nhiều ngôn ngữ thiểu số mà nếu không có những nỗ lực đó đã có thể hoàn toàn biến mất mà không để lại dấu vết có thể nghiên cứu được. Những kết quả đó có giá trị không thể phủ nhận về mặt học thuật và về mặt giữ lại một phần di sản nhân loại cho các thế hệ tương lai.

Tuy nhiên, ghi chép và số hóa chỉ là bảo tồn ngôn ngữ như hiện vật trong bảo tàng, không phải như ngôn ngữ sống. Kho lưu trữ số của tiếng Rơ Măm hay tiếng Ơ Đu không giúp những đứa trẻ trong cộng đồng đó có thêm lý do để học và sử dụng ngôn ngữ của tổ tiên trong đời sống hàng ngày. Điều quan trọng cần nhận ra là ghi chép học thuật và hồi sinh ngôn ngữ là hai mục tiêu khác nhau đòi hỏi những chiến lược khác nhau. Ghi chép có thể được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu từ bên ngoài cộng đồng; hồi sinh ngôn ngữ chỉ có thể xảy ra từ bên trong – khi chính người trong cộng đồng tìm thấy những lý do thực sự để sử dụng và truyền lại ngôn ngữ đó cho thế hệ sau.

Một số dự án gần đây đang cố gắng kết hợp ghi chép với hồi sinh cộng đồng theo những cách sáng tạo hơn. Tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, những dự án kho lưu trữ ngôn ngữ do cộng đồng quản lý đã được thí điểm, trong đó cộng đồng không chỉ tham gia như đối tượng nghiên cứu mà còn như chủ thể tạo ra và quản lý kho lưu trữ của chính mình. Những cộng đồng tham gia những dự án như vậy thường thể hiện mức độ gắn kết với ngôn ngữ bản địa cao hơn so với những cộng đồng chỉ là đối tượng của các dự án ghi chép truyền thống – một bằng chứng nữa cho nguyên tắc đã được nhắc đến nhiều lần trong chuỗi nghiên cứu này: bảo tồn văn hóa bền vững phải xuất phát từ và được thực hiện bởi chính cộng đồng, không phải chỉ vì cộng đồng.

Giáo dục song ngữ – tiềm năng và thách thức

Giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ là một trong những cách tiếp cận được nghiên cứu nhiều nhất và được đánh giá là hiệu quả nhất trong việc vừa bảo tồn ngôn ngữ bản địa vừa giúp học sinh dân tộc thiểu số thành công trong hệ thống giáo dục quốc gia. Bằng chứng từ nhiều quốc gia và nhiều bối cảnh văn hóa khác nhau – Bolivia, Guatemala, Philippines, Papua New Guinea – nhất quán cho thấy khi trẻ em được học đọc và viết trước tiên bằng tiếng mẹ đẻ, chúng không chỉ phát triển khả năng ngôn ngữ bản địa mạnh hơn mà còn học ngôn ngữ thứ hai hiệu quả hơn và đạt kết quả học tập tốt hơn về tổng thể.

Tại Việt Nam, chương trình giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ đã được thí điểm tại một số tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là tại Lào Cai và Gia Lai, với kết quả đáng khích lệ. Học sinh tham gia chương trình thí điểm không chỉ có kết quả học tập tổng thể tốt hơn mà còn duy trì được ngôn ngữ mẹ đẻ ở mức độ cao hơn. Tuy nhiên, chương trình vẫn chưa được mở rộng trên quy mô toàn quốc vì nhiều lý do thực tiễn: thiếu giáo viên được đào tạo để dạy song ngữ, thiếu tài liệu giảng dạy chất lượng cao bằng tiếng dân tộc và những thách thức về chính sách liên quan đến việc chuẩn hóa chữ viết của các ngôn ngữ chưa có chữ viết chính thức.

Một thách thức sâu hơn của giáo dục song ngữ là nó giải quyết được vấn đề ở trường học nhưng không nhất thiết giải quyết được vấn đề trong gia đình và cộng đồng. Nếu cha mẹ vẫn không sử dụng tiếng bản địa tại nhà và cộng đồng không tạo ra những không gian sử dụng ngôn ngữ bản địa ngoài giờ học, thì dù giáo dục song ngữ ở trường có hiệu quả đến đâu, ngôn ngữ bản địa vẫn có nguy cơ bị thu hẹp dần vào không gian học đường và mất dần sức sống trong đời sống thực.

Những mô hình hồi sinh ngôn ngữ đáng tham khảo

Một số cộng đồng trên thế giới đã cho thấy rằng sự suy giảm ngôn ngữ không phải là quá trình một chiều không thể đảo ngược. Tiếng Maori ở New Zealand, tiếng Hebrew ở Israel và tiếng Welsh ở xứ Wales là những ví dụ tiêu biểu về những ngôn ngữ từng có nguy cơ biến mất nhưng đã được hồi sinh thành công nhờ những nỗ lực có hệ thống và có sự cam kết mạnh mẽ từ cả cộng đồng lẫn nhà nước.

Trường hợp của tiếng Maori tại New Zealand đặc biệt có giá trị tham khảo cho Việt Nam. Vào những năm 1970, tiếng Maori đang suy giảm nhanh chóng khi hầu hết trẻ em Maori lớn lên mà không nói được tiếng mẹ đẻ của mình. Phong trào hồi sinh bắt đầu từ chính cộng đồng, với sáng kiến kōhanga reo (tổ ấm ngôn ngữ) – những nhóm học tập cho trẻ nhỏ nơi những người cao tuổi nói tiếng Maori thành thạo truyền dạy ngôn ngữ và văn hóa trong môi trường tự nhiên và đầm ấm. Từ sáng kiến cộng đồng đó, phong trào lan rộng ra trường học, đài phát thanh và truyền hình, và cuối cùng được thể chế hóa thành chính sách nhà nước với việc tiếng Maori được công nhận là ngôn ngữ chính thức vào năm 1987. Ngày nay, tiếng Maori không chỉ được dạy trong trường học mà còn hiện diện trên các biển báo công cộng, trong phát sóng truyền thông và trong nhiều lĩnh vực của đời sống công cộng.

Bài học từ tiếng Maori và những trường hợp hồi sinh ngôn ngữ thành công khác là: hồi sinh ngôn ngữ đòi hỏi sự kết hợp của ba yếu tố. Thứ nhất là ý chí cộng đồng – khi người trong cộng đồng thực sự muốn ngôn ngữ của mình tiếp tục sống và sẵn sàng đầu tư thời gian và công sức để duy trì nó. Thứ hai là những không gian sử dụng ngôn ngữ thực sự – không chỉ trong trường học mà trong đời sống hàng ngày, trong truyền thông, trong văn học và nghệ thuật. Thứ ba là sự hỗ trợ thể chế từ nhà nước – không phải để thay thế nỗ lực của cộng đồng mà để tạo ra những điều kiện pháp lý, tài chính và giáo dục giúp những nỗ lực đó có thể diễn ra và duy trì được.

Kết luận

Sự biến mất của một ngôn ngữ bản địa không phải là sự kiện xảy ra vào một ngày cụ thể hay có thể quan sát được rõ ràng. Đó là một quá trình dài và âm thầm – tiếng nói dần dần thu hẹp từ không gian công cộng vào không gian riêng tư, từ giao tiếp hàng ngày vào những dịp đặc biệt, từ thế hệ người lớn tuổi sang thế hệ trẻ hơn với mức độ thành thạo ngày càng giảm, cho đến khi một ngày nào đó người cuối cùng biết nói ngôn ngữ đó qua đời và cái thế giới quan được mã hóa trong ngôn ngữ đó biến mất mãi mãi cùng với họ.

Việt Nam đang đứng trước một cuộc chạy đua với thời gian. Với nhiều ngôn ngữ thiểu số chỉ còn vài chục hay vài người nói thành thạo, và với tốc độ suy giảm đang ngày càng nhanh hơn, cửa sổ cơ hội để hành động đang thu hẹp lại theo từng năm. Những gì có thể làm hôm nay – ghi chép lại khi người nắm giữ ngôn ngữ vẫn còn, xây dựng những chương trình giáo dục song ngữ thực sự hiệu quả, tạo ra những không gian và khuyến khích để ngôn ngữ bản địa có vị trí trong đời sống đương đại – sẽ không thể làm được khi đã quá muộn.

Nhưng điều quan trọng hơn những giải pháp kỹ thuật cụ thể là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về giá trị và vị thế của ngôn ngữ bản địa. Bảo tồn ngôn ngữ không phải là việc giữ lại những hiện vật của quá khứ – đó là việc duy trì một nền tảng đa dạng tri thức nhân loại mà tất cả chúng ta đều có lợi khi nó tiếp tục tồn tại. Mỗi ngôn ngữ biến mất là một mất mát không thể bù đắp – không chỉ cho cộng đồng đã tạo ra nó, mà cho toàn bộ nhân loại và cho khả năng của chúng ta trong việc hiểu và ứng phó với một thế giới ngày càng phức tạp. Sự đa dạng ngôn ngữ, giống như sự đa dạng sinh học, không chỉ là di sản cần được trân trọng – đó là nguồn lực cần được bảo vệ vì tương lai của tất cả chúng ta.

Tài liệu tham khảo

Bài viết được xây dựng dựa trên nền tảng nghiên cứu đa nguồn, kết hợp giữa các tài liệu học thuật uy tín trong và ngoài nước, bách khoa toàn thư chuyên ngành, báo cáo thực địa từ các viện nghiên cứu, và các nguồn nghiên cứu nhân học, xã hội học, ngôn ngữ học đương đại. Phương pháp tiếp cận tham khảo chéo giữa lý thuyết quốc tế và bối cảnh địa phương Việt Nam đảm bảo tính chính xác và toàn diện của thông tin, phản ánh sự phức tạp và đa chiều của những biến đổi văn hóa đang diễn ra trong đời sống đương đại.

Nhóm nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc học thuật, không sử dụng nguồn không rõ ràng hoặc thiếu uy tín, luôn xác minh thông tin từ nhiều nguồn độc lập, và cam kết trích dẫn chính xác với đầy đủ thông tin tác giả. Mọi quan điểm, luận cứ quan trọng đều được hỗ trợ bởi bằng chứng từ các nguồn đáng tin cậy, phản ánh cam kết của dự án với sự nghiêm túc trong học thuật và tính trung thực về mặt trí tuệ.

Danh mục nguồn tham khảo lý thuyết về ký ức tập thể và bản sắc văn hóa:

– Halbwachs, Maurice. La Mémoire collective (Ký ức tập thể). Presses Universitaires de France, 1950.

– Nora, Pierre. Les Lieux de mémoire (Những nơi chốn ký ức), 3 tập. Gallimard, 1984 – 1992.

– Ricœur, Paul. La Mémoire, l’histoire, l’oubli (Ký ức, lịch sử, sự lãng quên). Éditions du Seuil, 2000.

– Taylor, Charles. Sources of the Self: The Making of the Modern Identity. Harvard University Press, 1989.

– Wikipedia, Collective memory.

– Wikipedia, Cultural identity.

Stanford Encyclopedia of Philosophy, Memory.

Danh mục nguồn tham khảo về ngôn ngữ học và ngôn ngữ bản địa:

– Fishman, Joshua A. Reversing Language Shift: Theoretical and Empirical Foundations of Assistance to Threatened Languages. Multilingual Matters, 1991.

– Nettle, Daniel & Romaine, Suzanne. Vanishing Voices: The Extinction of the World’s Languages. Oxford University Press, 2000.

– Crystal, David. Language Death. Cambridge University Press, 2000.

– UNESCO, Atlas of the World’s Languages in Danger.

Endangered Languages Project.

SIL International, Language resources and documentation.

– Viện Ngôn ngữ học Việt Nam. Báo cáo điều tra thực trạng sử dụng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, 2022.

Danh mục nguồn tham khảo về nhân học âm nhạc và di sản văn hóa phi vật thể:

– Feld, Steven. Sound and Sentiment: Birds, Weeping, Poetics, and Song in Kaluli Expression. University of Pennsylvania Press, 1982.

– Hood, Mantle. The Ethnomusicologist. McGraw-Hill, 1971.

UNESCO, Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage 2003.

– Wikipedia, Intangible cultural heritage.

– Viện Âm nhạc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Nghiên cứu âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, nhiều số, 2010 – 2022.

Danh mục nguồn tham khảo về không gian thiêng, nghi lễ và lễ hội:

– Eliade, Mircea. Le Sacré et le Profane (Cái thiêng và cái tục). Gallimard, 1957.

– Turner, Victor. The Ritual Process: Structure and Anti-Structure. Aldine, 1969.

– MacCannell, Dean. The Tourist: A New Theory of the Leisure Class. Schocken Books, 1976.

– Bachelard, Gaston. La Poétique de l’espace (Thi học của không gian). Presses Universitaires de France, 1958.

– Wikipedia, Sacred–profane dichotomy.

– Wikipedia, Rites of passage.

Danh mục nguồn tham khảo về cấu trúc gia đình, liên thế hệ và tang lễ:

– Putnam, Robert D. Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community. Simon & Schuster, 2000.

– Parkes, Colin Murray. Bereavement: Studies of Grief in Adult Life. International Universities Press, 1972.

– Erikson, Erik H. Identity and the Life Cycle. Norton, 1980.

– Wikipedia, Family structure.

– Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới. Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đô thị hóa, 2022.

– Tổng cục Thống kê. Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Nhà xuất bản Thống kê, 2020.

Danh mục nguồn tham khảo về di cư, đô thị hóa và căn tính:

– Bhabha, Homi K. The Location of Culture. Routledge, 1994.

– Wikipedia, Rural–urban migration.

– ILO, Internal migration and rural transformation in Viet Nam.

– Viện Khoa học Lao động và Xã hội. Báo cáo xu hướng lao động và việc làm Việt Nam, 2022.

– Bộ Xây dựng. Báo cáo tỷ lệ đô thị hóa Việt Nam, 2021 – 2023.

Danh mục nguồn tham khảo về hình ảnh cơ thể, truyền thông và kinh tế thị trường:

– Debord, Guy. La Société du spectacle (Xã hội của màn diễn). Buchet-Chastel, 1967.

– Bourdieu, Pierre. La Distinction: Critique sociale du jugement (Sự phân biệt: Phê phán xã hội về phán đoán thẩm mỹ). Minuit, 1979.

– Wikipedia, Body image.

– Viện Tâm lý học Việt Nam. Khảo sát sức khỏe tâm thần thanh thiếu niên, 2022.

– Hiệp hội Nhà hàng Việt Nam. Báo cáo thị trường ăn uống ngoài gia đình, 2022.

Danh mục nguồn tham khảo về nghiên cứu dân tộc học và văn hóa Việt Nam:

– Ngô Đức Thịnh (chủ biên). Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Trẻ, 2004.

– Phan Huy Lê (chủ biên). Lịch sử và văn hóa Việt Nam: Tiếp cận bộ phận. Nhà xuất bản Thế giới, 2012.

– Trần Quốc Vượng. Cơ sở văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.

– Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

– Phan Đại Doãn. Làng Việt Nam: Một số vấn đề kinh tế – văn hóa – xã hội. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1992.

– Đinh Gia Khánh & Lê Hữu Tầng (chủ biên). Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1993.

– Viện Dân tộc học. Các dân tộc ít người ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2014.

– Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. Báo cáo thực trạng di sản văn hóa phi vật thể, 2022.

Lưu ý: Danh sách tài liệu tham khảo này đại diện cho các nguồn chính được sử dụng trong toàn bộ chuỗi nghiên cứu. Mỗi bài viết chuyên sâu trong dự án có thể tham chiếu thêm các chuyên khảo học thuật, bài báo được bình duyệt từ các tạp chí như Journal of Southeast Asian Studies, Asian Ethnicity, Language Documentation & Conservation, Journal of Vietnamese Studies, và các công trình thực địa của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Về dự án nghiên cứu di sản sống và biến đổi văn hóa đương đại

Dự án Di sản sống và sự biến đổi văn hóa trong đời sống đương đại được khởi xướng và chủ trì thực hiện bởi nhóm nghiên cứu nhavantuonglai và các cộng sự từ năm 2025, với sự tài trợ kinh phí, nguồn lực chuyên môn và tư vấn triển khai từ Trung tâm phát triển văn hóa đọc Nhavanvn. Dự án là một chương trình nghiên cứu toàn diện nhằm khảo sát những quá trình biến đổi văn hóa sâu sắc đang diễn ra trong đời sống xã hội Việt Nam đương đại – từ sự phai mờ của ký ức tập thể và ngôn ngữ bản địa, sự mai một của âm nhạc nghi lễ và không gian thiêng, đến sự tái cấu trúc của thiết chế gia đình, sự đứt gãy liên thế hệ trong bối cảnh đô thị hóa và di cư, và những cuộc khủng hoảng căn tính đặc thù của thế hệ trẻ Việt Nam đương đại.

Dự án không chỉ tập trung vào việc ghi chép và mô tả những hiện tượng văn hóa đang thay đổi mà còn đào sâu phân tích những cơ chế xã hội, kinh tế và quyền lực định hình những biến đổi đó, đặt câu hỏi về trách nhiệm của các chủ thể khác nhau trong việc bảo tồn và tái thiết bản sắc văn hóa, và tìm kiếm những mô hình thích ứng lành mạnh có thể giúp các cộng đồng duy trì sức sống văn hóa trong những điều kiện của thế giới hiện đại. Qua đó, nhóm nghiên cứu mong muốn tạo ra một nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy bằng tiếng Việt, góp phần nâng cao nhận thức xã hội về những mất mát văn hóa đang diễn ra âm thầm nhưng sâu sắc, và về những điều kiện cần thiết để tái thiết bản sắc văn hóa theo những hình thức phù hợp với thực tại đương đại.

Giới thiệu dự án nghiên cứu

Dự án đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu các chiều kích đa dạng của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn biến đổi chưa từng có, khi đất nước đang trải qua đồng thời nhiều quá trình có quy mô và tốc độ lịch sử: đô thị hóa nhanh chóng đưa hàng triệu người rời khỏi cộng đồng gốc, kinh tế thị trường tạo ra những ưu tiên không tương thích với việc duy trì nhiều thực hành văn hóa truyền thống, truyền thông đại chúng và mạng xã hội phổ biến những chuẩn mực văn hóa đồng nhất thay thế cho sự đa dạng địa phương, và sự suy yếu của những thiết chế phi chính thức từng là nền tảng của việc truyền tải văn hóa liên thế hệ.

Các chủ đề nghiên cứu được triển khai theo phương pháp phân tích chiều sâu, bao quát nhiều lĩnh vực liên ngành. Nhóm nghiên cứu khảo sát ký ức tập thể và những cơ chế của sự lãng quên có hệ thống – không chỉ là sự quên lãng tự nhiên mà là những quá trình xã hội và chính trị trong đó quyền kiểm soát ký ức cộng đồng được tranh giành và phân phối theo những logic quyền lực cụ thể. Hiện tượng mai một ngôn ngữ bản địa được phân tích không phải như quá trình tự nhiên và tất yếu mà như hệ quả của những bất đối xứng kinh tế và chính sách cụ thể, với những hệ lụy sâu sắc cho không chỉ cộng đồng thiểu số mà cho toàn bộ sự đa dạng tri thức của nhân loại.

Đặc biệt, dự án đặt câu hỏi về những gì thực sự đang mất đi khi âm nhạc nghi lễ – tiếng chiêng, lời hát then, tiếng khèn – không còn được thực hành trong những bối cảnh sống động của cộng đồng, khi những không gian thiêng – nhà Rông, rừng cấm, bến nước – bị tái định nghĩa thành sản phẩm du lịch, và khi những lễ hội cộng đồng được biến thành những màn trình diễn văn hóa có kịch bản phục vụ khán giả bên ngoài. Đây không phải là những câu hỏi về nghệ thuật hay văn hóa theo nghĩa hẹp – đó là câu hỏi về những hệ thống giao tiếp xã hội, những cơ chế truyền tải tri thức và những nền tảng tâm lý mà không có gì trong xã hội hiện đại thực sự thay thế được.

Dự án cũng dành sự chú ý đặc biệt cho những thiết chế gia đình và quan hệ liên thế hệ đang trải qua tái cấu trúc sâu sắc – từ mô hình gia đình đa thế hệ sang gia đình hạt nhân, từ hệ thống thứ bậc truyền thống sang những mối quan hệ được thương lượng linh hoạt hơn, và từ những không gian gắn kết văn hóa như mâm cơm gia đình hay nghi lễ tang ma sang những hình thức tương tác qua màn hình và dịch vụ chuyên nghiệp. Sự im tiếng của người già, được phân tích như là sự từ bỏ vai trò truyền tải tri thức trong bối cảnh không còn người hỏi, được đặt trong mối quan hệ với sự mất đi của những không gian và thiết chế từng tạo ra điều kiện tự nhiên cho sự truyền tải đó.

Những chiều kích của di cư và đô thị hóa được khảo sát không chỉ từ góc độ kinh tế mà từ góc độ văn hóa và tâm lý: những gì xảy ra với làng quê bị bỏ lại khi thế hệ năng động nhất ra đi, những gì xảy ra với những người trẻ không còn cộng đồng gốc để thuộc về và chưa xây dựng được cộng đồng mới có chiều sâu tương đương, và những gì xảy ra với cơ thể người khi nó trở thành đối tượng của thương mại hóa và truyền thông hóa sâu sắc trong môi trường đô thị hiện đại. Những câu hỏi đó không có câu trả lời đơn giản nhưng chúng cần được đặt ra và được nghiên cứu nghiêm túc nếu xã hội muốn đưa ra những phản ứng có ý nghĩa.

Phương pháp luận và tiếp cận liên ngành

Phương pháp tiếp cận của dự án mang tính liên ngành cao, kết hợp hài hòa giữa nhân học văn hóa, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học xã hội, nghiên cứu văn hóa, địa lý học nhân văn, nghiên cứu di sản và phân tích chính sách văn hóa đương đại. Sự giao thoa giữa các ngành học này không phải là sự ghép nối máy móc mà là một sự tổng hợp có hệ thống, xuất phát từ nhận thức rằng những biến đổi văn hóa đang diễn ra tại Việt Nam không thể được hiểu đầy đủ nếu chỉ nhìn từ một góc độ kỷ luật duy nhất.

Nhân học văn hóa cung cấp những khái niệm và phương pháp để hiểu văn hóa như là hệ thống sống động và những cơ chế của sự truyền tải và biến đổi văn hóa. Xã hội học cung cấp những công cụ phân tích những cấu trúc xã hội và những lực lượng tập thể đang định hình những thay đổi cá nhân và cộng đồng. Ngôn ngữ học cung cấp khung lý thuyết để hiểu ngôn ngữ không chỉ như phương tiện giao tiếp mà như hệ thống mã hóa tri thức và thế giới quan. Tâm lý học xã hội giúp phân tích những hệ quả của sự mất mát văn hóa và bản sắc đối với sức khỏe tâm thần và hành vi cá nhân.

Quy trình nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp luận khoa học nhân văn nghiêm ngặt, kết hợp phân tích tài liệu học thuật quốc tế và trong nước, nghiên cứu điền dã và ghi chép trường hợp điển hình, tham vấn chuyên gia từ các viện nghiên cứu và đại học uy tín, và tổng hợp số liệu từ các khảo sát và báo cáo của cơ quan nhà nước và tổ chức nghiên cứu độc lập. Việc kết hợp giữa lý thuyết quốc tế và quan sát thực địa địa phương là nguyên tắc nhất quán: những khái niệm của Halbwachs về ký ức tập thể hay của Fishman về dịch chuyển ngôn ngữ được áp dụng không phải như những khuôn mẫu cứng nhắc mà như những khung phân tích cần được kiểm chứng và điều chỉnh trong bối cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu đặc biệt chú ý đến việc dung hòa nhiều giọng nói và nhiều góc nhìn: giọng nói của người già và người trẻ, của người ở lại và người ra đi, của cộng đồng đa số và cộng đồng thiểu số, của những người đang trực tiếp chịu ảnh hưởng của những biến đổi văn hóa và những nhà nghiên cứu quan sát từ bên ngoài. Những câu chuyện cá nhân và những trải nghiệm cụ thể được đặt trong bối cảnh của những phân tích cấu trúc rộng hơn, tránh cả việc giảm thiểu những trải nghiệm cá nhân thành những biểu hiện của cấu trúc lẫn việc tách rời những câu chuyện cá nhân khỏi những điều kiện xã hội và kinh tế tạo ra chúng.

Dự án đặt ra cho mình những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về tính trung thực học thuật: không giản lược những hiện tượng phức tạp thành những tường thuật đơn chiều về tốt và xấu, không lý tưởng hóa quá khứ và cũng không coi sự biến đổi là luôn đồng nghĩa với tiến bộ, không né tránh những căng thẳng và mâu thuẫn nội tại trong những thực trạng được phân tích, và không áp đặt những giải pháp từ bên ngoài cho những vấn đề mà quyền tự quyết của cộng đồng là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ giải pháp có ý nghĩa nào.

Mục tiêu và ý nghĩa của dự án

Thông qua dự án Di sản sống và sự biến đổi văn hóa trong đời sống đương đại, nhóm nghiên cứu mong muốn không chỉ đóng góp vào việc phổ biến nhận thức về những biến đổi văn hóa đang diễn ra cho độc giả Việt Nam một cách có hệ thống và chiều sâu học thuật, mà còn tạo ra không gian tư duy và đối thoại về những lựa chọn mà xã hội Việt Nam đang phải và sẽ phải đưa ra về việc gìn giữ những gì và theo những cách nào trong quá trình phát triển và hiện đại hóa.

Việt Nam đang ở vào một thời điểm lịch sử đặc biệt – khi những biến đổi xã hội của vài thập niên đã tạo ra những đứt gãy văn hóa sâu sắc, nhưng khi nhiều chuỗi truyền tải văn hóa quan trọng vẫn còn chưa bị đứt hoàn toàn. Cửa sổ cơ hội để hành động đang thu hẹp theo từng năm, theo từng người già qua đời mà không có người kế thừa và theo từng thế hệ trẻ lớn lên xa cộng đồng gốc của mình. Nhận ra tính cấp thiết đó và chuyển nó thành hành động – ở cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và chính sách – là mục tiêu thực tiễn mà dự án hướng đến.

Thất thoát tri thức bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam 509 – viet lach, nghien cuu, nghien cuu van hoa, van hoa, y thuc con nguoi, nhan hoc, ngon ngu, ngon ngu ban dia, ngon ngu thieu so, dan toc thieu so, ngon ngu mai mot, bao ton ngon ngu, ky uc cong dong thieu so va bao ton van hoa ban dia trong thoi dai moi.
Thất thoát tri thức bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam.

Dự án cũng hướng đến việc xây dựng một nền tảng khái niệm và lý thuyết cho những cuộc thảo luận về chính sách văn hóa tại Việt Nam. Trong những cuộc thảo luận đó, thường thiếu vắng những phân tích sâu sắc về cơ chế của sự mất mát văn hóa, về những gì thực sự cần thiết để bảo tồn có ý nghĩa, về sự khác biệt giữa bảo tồn thụ động và tái thiết chủ động, và về những điều kiện cần thiết để quyền tự quyết văn hóa của cộng đồng có thể được thực hiện thực sự chứ không phải chỉ trên giấy tờ. Dự án mong muốn lấp đầy một phần khoảng trống đó.

Hơn thế nữa, bằng cách phân tích một cách nghiêm túc và không né tránh những chi phí văn hóa và xã hội của quá trình phát triển, dự án đặt ra câu hỏi về những mô hình phát triển nào có thể vừa nâng cao điều kiện sống vật chất vừa bảo tồn những nguồn lực văn hóa và xã hội mà sức khỏe cộng đồng phụ thuộc vào. Đây không phải là câu hỏi của những người phản đối phát triển hay lý tưởng hóa nghèo đói – đó là câu hỏi của những người nhận ra rằng phát triển bền vững đòi hỏi phải tính đến tất cả những gì con người cần để sống một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa, không chỉ những gì có thể đo được bằng thu nhập và GDP.

Ý nghĩa lâu dài của dự án nằm ở việc xây dựng một nền tảng tri thức cho các thế hệ nghiên cứu sinh, giảng viên, nhà làm chính sách và người học Việt Nam quan tâm đến văn hóa học, xã hội học, nhân học và những vấn đề đương đại của xã hội Việt Nam. Dự án cũng hy vọng đóng vai trò như mô hình cho những nghiên cứu tương tự kết hợp giữa chiều sâu học thuật và tính ứng dụng thực tiễn – những nghiên cứu không chỉ mô tả thực trạng mà còn đặt câu hỏi về ý nghĩa và trách nhiệm, không chỉ ghi chép những gì đang xảy ra mà còn suy nghĩ về những gì có thể và nên được làm.

Các bài viết thuộc dự án

Cụm 1 — Nền tảng lý luận: Ký ức, bản sắc và sự đứt gãy:

Nguy cơ đứt gãy ký ức tập thể trong khi sát nhập hành chính.

Quyền lực, im lặng có hệ thống và những vùng trắng trong ký ức cộng đồng.

Mất quyền kể chuyện đã xói mòn ký ức của cộng đồng dân tộc thiểu số như thế nào?.

Đứt gãy ký ức và xói mòn bản sắc địa phương dưới áp lực đô thị hóa.

Cụm 2 — Ngôn ngữ và biểu đạt văn hóa bản địa:

– Thất thoát tri thức bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam.

Đứt gãy liên thế hệ làm ngôn ngữ nghi lễ mất đi người kế thừa như thế nào?.

Sự tàn lụi của ngôn ngữ âm thanh nghi lễ trước làn sóng đứt gãy văn hóa.

Cụm 3 — Không gian, biểu tượng và nghi lễ bản địa:

Đồng nhất hóa trang phục và xóa mờ hệ thống ký hiệu văn hóa thiểu số.

Phi thiêng hóa không gian bản địa trong không gian cộng đồng.

Sân khấu hóa nghi lễ thay thế quy tắc cộng đồng trong lễ hội truyền thống.

Cụm 4 — Gia đình và thiết chế xã hội:

Tái cấu trúc quan hệ liên thế hệ trong bối cảnh đô thị hóa.

Sự suy yếu của thiết chế giáo dục phi chính thức của mâm cơm gia đình.

Những hệ quả liên thế hệ khi người già ngưng truyền tải tri thức.

Công nghiệp hóa tang ma đã giết chết bản sắc truyền thống như thế nào?.

Cụm 5 — Di cư, đô thị hóa và khủng hoảng bản sắc:

Di cư nông thôn và sự xói mòn vốn xã hội, tri thức địa phương trong làng quê Việt Nam.

Khủng hoảng căn tính của thế hệ trẻ trong xã hội đô thị hóa.

Thương mại hóa cơ thể và sản xuất sự bất hài lòng của chuẩn mực thẩm mỹ đương đại.

Tổng kết dự án:

Điều kiện, con đường và trách nhiệm liên thế hệ để tái thiết bản sắc.

Với toàn bộ 18 bài viết trải dài qua 5 cụm chủ đề, dự án đã hoàn thành mục tiêu khảo sát toàn diện những chiều kích chính của sự biến đổi văn hóa tại Việt Nam đương đại. Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng công trình này sẽ không chỉ là tài liệu tham khảo học thuật mà còn là nguồn cảm hứng và cơ sở tư duy cho những ai đang và sẽ dành tâm huyết cho việc gìn giữ và tái thiết bản sắc văn hóa Việt Nam trong thời đại đầy biến động này. Dự án được thực hiện với tinh thần nghiêm túc khoa học, cam kết cung cấp những góc nhìn đa chiều, toàn diện và dựa trên bằng chứng về các vấn đề văn hóa, xã hội và nhân học trong bối cảnh chuyển đổi lịch sử mà Việt Nam đang trải qua.

Thất thoát tri thức bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam 661 – viet lach, nghien cuu, nghien cuu van hoa, van hoa, y thuc con nguoi, nhan hoc, ngon ngu, ngon ngu ban dia, ngon ngu thieu so, dan toc thieu so, ngon ngu mai mot, bao ton ngon ngu, ky uc cong dong thieu so va bao ton van hoa ban dia trong thoi dai moi.
Thất thoát tri thức bản địa trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam.

Chuyên mục van-hoa

Chekhov và ký ức

Chekhov và ký ức

Anton Chekhov đã để lại những câu chuyện minh chứng cho cách mà ký ức có thể soi sáng con đường dẫn đến sự thấu hiểu và đem lại ý nghĩa cho cuộc sống…

Xem chi tiết Chekhov và ký ức

Chuyên mục dan-toc-thieu-so

Chuyên mục y-thuc-con-nguoi

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ