Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

Đường xưa mây trắng | Chương 60

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 17 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 18 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 19 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, c.

19 phút đọc.

0 lượt xem.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhà sư, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội và hòa bình nổi tiếng trên thế giới. Ông là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân. Ông cũng là người đưa ra khái niệm chánh niệm, một phương pháp tu tập và sống đời giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với bản thân, với mọi người và với thiên nhiên.

Tôi viết Đường Xưa Mây Trắng ở quán Xóm Thượng, khi chưa có lò sưởi trung ương, chỉ một lò củi nhỏ giữa trời lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc.

Bụt từ giã vườn Ambalatthika. Người đi đến Nalanda. Sau khi thăm viếng và giáo hóa tại đây, người đi về Ampa.

Ampa là thành phố lớn nhất của xứ Anga; xứ này nằm dưới quyền bảo hộ của vua Bimbisara nước Magadha.

Dân cư ở đây đông đúc, ruộng đất ở đây phì nhiêu, cây cỏ ở đây xanh tươi.

Bụt cư trú trong một khu rừng mát mẻ bên bờ hồ Gaggara. Trong hồ, hoa sen nở thơm ngát.

Nghe Bụt tới, dân chúng lũ lượt đến thăm người. Có một người trai trẻ dòng Bà la môn giàu có tên là Sonadanda, nổi tiếng thông minh xuất chúng tại địa phương này, cũng có ý muốn đi viếng Bụt. Những người Bà la môn khác cố ý ngăn giữ không cho ông ta đi, bảo rằng nếu Sonadanda tới thăm sa môn Gotama thì gây uy tín cho vị sa môn này nhiều quá. Sonadanda mỉm cười trả lời rằng Bụt là nhân vật lỗi lạc, trên đời chỉ có một, và nếu không đi thăm người thì thật là bỏ phí cơ hội ngàn năm một thuở. Ta phải đi để học hỏi chứ. Để biết ta hơn sa môn Gotama ở những điểm nào và sa môn Gotama hơn ta ở những điểm nào. Vừa nói, Sonadanda vừa mỉm cười bí mật.

Nghe Sonadanda nói vậy hàng trăm người trí thức Bà la môn khác cũng muốn xin đi theo. Người trí thức này, theo họ nghĩ, sẽ không làm mất mặt giới Bà la môn trước đám quần chúng đông đảo đến viếng Bụt.

Sonadanda còn chưa biết mở đầu câu chuyện ra sao cho thông minh, thì Bụt đã ân cần hỏi:

– Các vị học giả trong giới Bà la môn hãy cho chúng tôi biết đâu là những điều kiện cần thiết để có thể thật sự là một người Bà la môn chân chính. Quý vị nói đi và nếu cần thì nên viện dẫn kinh điển của quý vị.

Sonadanda rất hoan hỷ. Ông ta trả lời Bụt rằng một vị Bà la môn đích thực phải có đủ năm điều kiện sau đây: thứ nhất là phải có dung sắc đẹp đẽ, thứ hai là phải biết kỹ thuật xướng tụng và chú thuật, thứ ba là phải có huyết thống thuần túy trong bảy đời, thứ tư là phải có đức hạnh, thứ năm là phải có tuệ giác.

Bụt hỏi:

– Trong năm điều kiện ấy, điều kiện nào là căn bản? Còn điều nào dù là không có thì người Bà la môn vẫn còn có thể đích thực là một người Bà la môn?

Trả lời dần theo những câu hỏi của Bụt, Sonadanda đi đến kết luận rằng hai điều kiện sau chót là hai điều kiện căn bản của một vị Bà la môn đích thực. Sonadanda công nhận rằng các điều kiện dung sắc, kỹ thuật xướng tụng chú thuật và huyết thống bảy đời không phải là những điều kiện căn bản. Không có ba điều kiện ấy nhưng nếu có các điều kiện đức hạnh và tuệ giác thì người ta vẫn có thể là một vị Bà la môn đích thực như thường.

Gần năm trăm vị Bà la môn có mặt đưa tay phản đối Sonadanda. Họ kết tội Sonadanda đã bị Bụt dùng hý luận đưa tới chỗ chấp nhận lập trường của Bụt và chối bỏ một điều kiện mà họ cho là căn bản là điều kiện huyết thống. Họ đã đặt hết niềm tin nơi sự thông minh và tài mẫn tuệ của Sonadanda mà họ coi như vị lãnh đạo tinh thần của họ. Nay Sonadanda công nhận lập trường của Bụt thì họ mất mặt biết bao.

Bụt can thiệp:

– Này quý vị quan khách! Nếu quý vị có lòng tin nơi người lãnh đạo của quý vị là Sonadanda, thì quý vị im lặng đi để tôi tiếp tục đối thoại với ông ta, còn nếu quý vị không có lòng tin ở ông ta, thì quý vị xin ông ta im lặng đi để tôi nói chuyện với quý vị.

Mọi người lặng thinh. Sonadanda nói:

– Xin sa môn Gotama yên lòng. Để tôi xin có đôi lời nói với các bạn tôi.

Rồi Sonadanda quay lại với năm trăm vị Bà la môn. Ông ta chỉ vào một thanh niên ngồi hàng đầu và nói:

– Các bạn có thấy cháu tôi, vị thanh niên Bà la môn tên là Angaka đang ngồi kia không? Angaka là một người thanh niên tuấn tú, khôi ngô, có phong thái trang nhã và thanh cao. Đứng về phương diện dung sắc, trong chúng ta không ai so được với Angaka, trừ sa môn Gotama ra mà thôi. Angaka lại thông hiểu ba bộ kinh Veda, thông hiểu văn phạm, ngữ pháp và kỹ thuật xướng tụng và chú thuật; điều này ai cũng biết. Angaka cũng có huyết thống thanh tịnh, cho đến bảy đời, kể cả về bên cha lẫn mẹ. Angaka có đủ ba điều kiện là dung sắc, kỹ thuật xướng tụng chú thuật và huyết thống thanh tịnh. Nhưng giả sử Angaka sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, thì dung sắc ấy còn có giá trị gì? Kiến thức Veda và chú thuật còn có giá trị gì? Thưa các bạn, hai điều kiện sau mới là hai điều kiện căn bản của một người Bà la môn đích thực. Đó là giới hạnh và tuệ giác. Đây là sự thực chung cho tất cả chúng ta chứ không phải là sự thực riêng của sa môn Gotama.

Sonadanda nói đến đây thì tiếng hoan hô của quần chúng nổi lên vang dậy. Đợi cho tiếng hoan hô chấm dứt, Bụt hỏi Sonadanda:

– Nhưng trong hai điều kiện căn bản kia còn lại là giới hạnh và trí tuệ, ta có thể bỏ bớt một điều để giữ lại một điều hay không?

– Thưa sa môn Gotama, không thể được, nhờ giới hạnh tịnh nghiêm mà tuệ giác phát triển, nhờ tuệ giác phát triển mà giới hạnh càng tịnh nghiêm. Sa môn Gotama, cũng như lấy tay để rửa tay, lấy chân để kỳ cọ chân, hai thứ giới hạnh và tuệ giác nâng đỡ và phát triển lẫn nhau; giới hạnh làm cho tuệ giác thêm sáng và tuệ giác làm cho giới hạnh thêm thanh tịnh. Giới hạnh và tuệ giác là hai cái quý nhất trên đời.

Bụt nói:

– Hay lắm, Sonadanda! Những điều ông nói đúng là sự thực. Giới hạnh và tuệ giác là hai cái quý nhất trên đời. Ông hãy nói thêm đi. Làm thế nào để phát triển giới hạnh và tuệ giác đến mức độ cao nhất?

Sonadanda chắp tay xá Bụt, mỉm cười:

– Bạch sa môn, xin người chỉ dạy cho. Chúng con chỉ biết nguyên tắc thế thôi. Sa môn là người có thực tập và có chứng đắc. Xin người chỉ bày cho chúng con rõ đâu là những phương pháp có thể giúp ta phát triển giới hạnh và tuệ giác đến mức viên mãn.

Bụt bắt đầu dạy đạo giải thoát. Người nói đến nguyên tắc tam học là giới định tuệ. Có giới thì có định, có định thì có tuệ, có tuệ thì giới thể vững vàng. Giới thể càng vững thì định lực càng lớn, định lực càng lớn thì tuệ giác càng sâu. Người nói đến phép quán duyên sinh để phá trừ những kiến chấp về thường, về ngã, để cắt đứt những sợi dây tham ái, hờn giận, si mê, để đạt tới giải thoát và an lạc.

Sonadanda say sưa nghe Bụt nói. Khi Bụt dứt lời, Sonadanda đứng dậy chắp tay:

– Sa môn Gotama! Con xin cảm ơn sa môn đã mở mắt cho con hôm nay. Những lời của sa môn nói đã có hiệu lực đưa con ra khỏi vũng lầy tăm tối. Con xin được quy y Bụt, quy y Pháp và quy y Tăng để làm một kẻ môn đệ của người. Con xin kính thỉnh Bụt và giáo đoàn ngày mai tới nhà con thọ trai.

Cuộc đàm thoại hôm ấy giữa Bụt và giới trí thức trẻ tuổi Bà la môn thật là hào hứng và đã gây chấn động sâu xa trong mọi giới. Những người trẻ tuổi trong giới Bà la môn đi theo Bụt rất đông.

Sau đó ít lâu, một người thanh niên Bà la môn nổi tiếng khác tên là Ambattha và thầy của anh là Pokkharasadi do một cuộc thăm viếng và đàm đạo với Bụt cũng đã phát nguyện quy y Tam Bảo. Việc này xảy ra tại một làng Bà la môn tên là làng Lechanankala trong vương quốc Kosala. Phong trào thanh niên Bà la môn theo Bụt càng ngày càng lớn. Niềm bực tức của những nhà lãnh đạo Bà la môn và của các giáo phái khác cũng vì vậy mà khó tiêu tan đi được.

Tại công viên Ambalatthika, đại đức Svastika đã có dịp gần gũi đại đức Moggallana để hỏi thăm về các giáo phái hiện đang thịnh hành nhất và đã được đại đức nói cho nghe một cách sơ lược về chủ trương của các giáo phái ấy.

Trước hết là giáo phái của đạo sĩ Purana Kassapa. Phái này chủ trương một thái độ hoài nghi về luân lý, cho rằng ý niệm về thiện và ác chỉ là nhận thức do thói quen và tập quán mà có.

Kế đến là giáo phái của đạo sĩ Makkhali Gosala. Giáo phái này chủ trương thuyết tất nhiên, cho rằng hành vi và vận mạng con người đều do những quy luật vận hành tự nhiên sắp đặt và con người không thể làm gì hơn được. Nếu năm trăm hoặc một ngàn kiếp sau mà con người được giải thoát thì đó cũng là do sự vận hành của tự nhiên giới, chứ không phải vì nỗ lực của con người mà có giải thoát.

Thứ ba là giáo phái của đạo sĩ Ajita Kesakambati, chủ trương một thuyết duy vật thuần túy, cho rằng con người là do bốn yếu tố, đất, nước, lửa và không khí tạo thành, và sau khi chết thì không còn gì nữa. Theo phái này, mục đích của đời người là hưởng lạc trong khi con người đang còn sống.

Giáo phái thứ tư do đạo sĩ Pakudha Kaccayana cầm đầu, chủ trương ngược lại thuyết của giáo phái của đạo sĩ Ajita. Giáo phái này chủ trương thuyết bất diệt, cho rằng tâm ta cũng như thân ta không bao giờ có thể bị hủy diệt. Theo giáo phái này, có bảy yếu tố làm nên con người, đó là đất, nước, lửa, không khí, khổ, vui, và sinh mạng. Sống và chết chỉ là hiện tượng bên ngoài do sự kết hợp hay tụ tán của bảy yếu tố ấy tạo nên, trong khi tự thân của bảy yếu tố ấy là trường cửu và bất diệt.

Giáo phái thứ năm do đạo sĩ Sanjaya Belatthiputta thành lập.

Ngày xưa các đại đức Sariputta và Maha Moggallana đã từng theo học với đạo sĩ này.

Đạo sĩ Sanjaya dạy thuyết thích ứng, cho rằng chân lý tùy thuộc vào trường hợp, vào không gian và vào thời gian. Có thể trong trường hợp này, thời gian này và địa phương này, một điều nọ có thể là chân lý, nhưng trong trường hợp khác, thời gian khác và địa phương khác thì điều đó có thể không còn là chân lý. Nhận thức con người là thước đo của muôn vật.

Giáo phái thứ sáu là giáo phái của đạo sĩ Nigantha Nataputta. Các đạo sĩ trong giáo phái này thực hành pháp khổ hạnh cực đoan, không mặc quần áo và giữ giới bất sát một cách tuyệt đối. Đạo sĩ Nigantha chủ trương một thứ vận mạng luận có tính cách nhị nguyên, cho mạng (jiva) và phi mạng (ajiva) là nền tảng cho vũ trụ và sự sống. Thế lực của các du sĩ lõa hình này trong xã hội khá lớn, và với đoàn khất sĩ của Bụt, các du sĩ lõa hình đã có nhiều liên lạc và tiếp xúc qua lại. Điểm tương đồng căn bản giữa giáo đoàn du sĩ và giáo đoàn khất sĩ là ý niệm tôn trọng sự sống, nhưng giữa hai giáo đoàn có nhiều điểm dị biệt. Có những vị trong giáo đoàn Nigantha đã tỏ vẻ chống đối giáo đoàn khất sĩ. Đại đức Moggallana thường không chịu đựng được thái độ quá khích của một số các vị du sĩ lõa hình, và đã không ngần ngại nói lên cảm tưởng ấy, vì thế, đại đức thường bị các vị du sĩ lõa hình chống đối kịch liệt.

Về tới Savatthi, Bụt cư trú ở tu viện Đông Viên, nơi có giảng đường Lộc Mẫu. Các giới đệ tử nghe Bụt về, đến thăm người không ngớt. Một buổi sáng, nữ thí chủ Visakha tới tìm Bụt, đầu tóc và xiêm y ướt đẫm, Bụt hỏi:

– Visakha, bà đi đâu về mà đầu tóc và xiêm y ướt đẫm thế này?

– Lạy đức Thế Tôn, đứa cháu nội của con mới chết. Con buồn quá đi tìm Bụt mà quên mang theo cả dù, cả nón.

– Visakha, đứa cháu nội của bà lên mấy tuổi, cháu ốm bệnh gì mà mất?

– Bạch Thế Tôn, nó mới có ba tuổi, nó bị bệnh thương hàn.

– Tội nghiệp cháu. Này Visakha, bà có tất cả bao nhiêu con và cháu?

– Bạch Thế Tôn, con có tới mười sáu đứa con, chín đứa đầu đã lập gia đình, và con đã có tám đứa cháu, vừa nội vừa ngoại. Bây giờ con chỉ còn có bảy đứa cháu, toàn là cháu ngoại.

– Visakha, bà muốn có nhiều cháu lắm phải không?

– Vâng, bạch đức Thế Tôn, con muốn có thật nhiều con và thật nhiều cháu. Nhà càng đông con cháu thì lại càng vui.

– Này Visakha, nếu con cháu bà nhiều như dân số ở thủ đô Savatthi này thì chắc là bà vui lắm.

– Vâng, thưa đức Thế Tôn, con mà có được nhiều con nhiều cháu như dân số ở Savatthi thì còn gì bằng.

– Visakha, bà biết mỗi ngày ở thủ đô Savatthi có bao nhiêu người chết không?

– Thưa Thế Tôn, có ngày thì mười người chết, có ngày thì chín người, tám người, bảy người hay sáu người, ít nhất là một người. Thế Tôn, ở Savatthi không có ngày nào là không có người chết.

– Này Visakha, nếu con cháu bà đông đúc như dân cư ở Savatthi thì ngày nào mà tóc tai và áo quần của bà lại không ướt đẫm như thế kia?

Visakha chắp hai tay lại:

– Thôi, thôi, con không muốn con cháu đông đảo như dân số ở Savatthi nữa đâu. Con hiểu rồi. Càng thương nhiều thì càng bị ràng buộc nhiều, càng bị ràng buộc nhiều thì càng khổ đau nhiều. Bụt đã dạy con điều này nhiều lần, mà con cứ quên mãi.

Bụt im lặng, mỉm cười. Visakha nói:

– Thế Tôn, người thường du hành hóa độ khắp nơi và chỉ về Savatthi vào trước mùa mưa. Đệ tử chúng con nhiều khi nhớ Bụt, lên tu viện thăm thì ít khi được gặp người. Cho nên mỗi khi chúng con đến, chúng con chỉ biết đi vòng ba lần quanh tịnh thất của người rồi đi về mà thôi.

Bụt dạy:

– Visakha, bà nên nhớ rằng việc tu học tinh tiến theo giáo pháp cần thiết hơn việc thăm viếng. Mỗi khi tới chùa, các vị đều có dịp nghe các vị đại đức thuyết pháp để học hỏi thêm giáo lý và để đem về thực hành. Giáo pháp ấy chính là thầy đó. Đừng vì sự vắng mặt của thầy ở tu viện mà xao lãng việc tu học.

Đại đức Ananda bạch:

– Con ý định là sẽ trồng một cây bồ đề ngay trong tu viện. Mỗi khi các vị đến thăm Bụt mà không có Bụt thì có thể đến thăm và làm lễ cây bồ đề. Như vậy thì cũng như làm lễ Bụt. Chúng con sẽ đặt một pháp tọa bằng đá dưới gốc bồ đề. Nếu các vị đệ tử đem hoa tới cúng dường Bụt, các vị có thể dâng hoa trước pháp tọa làm lễ, và đi nhiễu ba vòng xung quanh cây bồ đề để quán niệm về Bụt.

Bà Visakha nói:

– Ý kiến của đại đức rất hay. Nhưng biết lấy cây bồ đề con ở đâu ra mà trồng?

Đại đức Ananda nói:

– Ta có thể đến xin hạt của cây bồ đề ở thôn Uruvela, nơi Bụt thành đạo. Visakha, bà đừng lo, tôi sẽ phụ trách về việc lấy hạt, ươm hạt và trồng cây bồ đề. Tôi sẽ trồng một cây ở tu viện và một cây ngay ở đây.

Nữ thí chủ Visakha đã cảm thấy nhẹ bớt trong lòng. Bà lạy Bụt và đại đức Ananda rồi ra về.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 01 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 02 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 03 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 04 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 05 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 06 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 07 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 08 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 09 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 10 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 11 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 12 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 13 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 14 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 15 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 16 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 17 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 18 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 19 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 20 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 21 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 22 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 23 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 24 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 25 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 26 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 27 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 28 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 29 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 30 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 31 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 32 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 33 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 34 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 35 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 36 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 37 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 38 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 39 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 40 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 41 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 42 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 43 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 44 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 45 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 46 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 47 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 48 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 49 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 50 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 51 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 52 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 53 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 54 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 55 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 56 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 57 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 58 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 59 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 60 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 61 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 62 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 63 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 64 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 65 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 66 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 67 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 68 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 69 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 70 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 71 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 72 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 73 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 74 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 75 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 76 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 77 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 78 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 79 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 80 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 81 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 82 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 83 tại đây.

Đường xưa mây trắng | Chương 60 400 – thu vien, van hoc, van hoc viet nam, doan van, ton giao, phat giao, thien van, thuc hanh ton giao, thich nhat hanh, duong xua may trang, duong xua may trang chuong 61, duong xua may trang 61.
Đường xưa mây trắng | Chương 60.

Chuyên mục duong-xua-may-trang

Đường xưa mây trắng | Chương 01

Đường xưa mây trắng | Chương 01

Vương Xá. Hôm ấy Bụt không đi trong đoàn của Svastika.Vừa bước ra khỏi tu viện, Svastika thấy ngay rằng đi hóa trai là một phương thức hành đạo. Lập tức ch.

Đường xưa mây trắng | Chương 01
Đường xưa mây trắng | Chương 64

Đường xưa mây trắng | Chương 64

Tôn, cố nhiên so với núi Tượng Đầu, hòn đất trong tay Thế Tôn không có nghĩa gì. Cũng như thế đó các vị, đối với người có tu, có học, có đạt đến trí tuệ th.

Đường xưa mây trắng | Chương 64
Đường xưa mây trắng | Chương 56

Đường xưa mây trắng | Chương 56

Đường xưa mây trắng, chương 23 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 24 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 25 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chươn.

Đường xưa mây trắng | Chương 56
Đường xưa mây trắng | Chương 25

Đường xưa mây trắng | Chương 25

Bụt. Đó là một đêm trăng. Đó là bà Mahapajapati ngồi trên ghế đá đang im lặng lắng nghe. Đó là Yasodhara với đỉnh trầm thơm mới đổi.Bụt bắt đầu thổi sáo.

Đường xưa mây trắng | Chương 25
Đường xưa mây trắng | Chương 81

Đường xưa mây trắng | Chương 81

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 11 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 12 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 13 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, c.

Đường xưa mây trắng | Chương 81
Đường xưa mây trắng | Chương 35

Đường xưa mây trắng | Chương 35

Đường xưa mây trắng, chương 33 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 34 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 35 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chươn.

Đường xưa mây trắng | Chương 35
Đường xưa mây trắng | Chương 18

Đường xưa mây trắng | Chương 18

Ông thấy sự có mặt của tất cả các loại chúng sanh ấy chính là sự có mặt của ông, không những trong hiện tại mà cũng là trong quá khứ và trong vị lai. Ông t.

Đường xưa mây trắng | Chương 18
Đường xưa mây trắng | Chương 43

Đường xưa mây trắng | Chương 43

Ông là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân. Ông cũng là người đưa ra khái niệm chánh niệm, một phươn.

Đường xưa mây trắng | Chương 43
Đường xưa mây trắng | Chương 12

Đường xưa mây trắng | Chương 12

Giờ đã đến Giờ đã đến Nàng hoảng hốt nhìn sang chỗ Siddhatta ngồi thì không còn thấy Siddhatta ở đấy. Những chiếc hoa lài cài trên tóc nàng bỗng rơi xuống.

Đường xưa mây trắng | Chương 12
Đường xưa mây trắng | Chương 04

Đường xưa mây trắng | Chương 04

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 61 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 62 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, chương 63 tại đây.Đọc Đường xưa mây trắng, c.

Đường xưa mây trắng | Chương 04
Đường xưa mây trắng | Chương 54

Đường xưa mây trắng | Chương 54

Jetavana Bà con nghĩ có chán ngán không Họ xưng là con cháu dòng họ Sakya, là những người tu theo phạm hạnh, họ nói từ bi hỷ xả, thế mà họ hãm hiếp người t.

Đường xưa mây trắng | Chương 54
Đường xưa mây trắng | Chương 53

Đường xưa mây trắng | Chương 53

Nhưng loài người có ai thương ta đâu, tại sao ta phải thương loài người Loài người là một loài độc ác, gian trá, phản bội, ta muốn tiêu diệt cho hết mới th.

Đường xưa mây trắng | Chương 53

Chuyên mục van-hoc-viet-nam

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Khoa Điềm từng làm báo Vùng lên của sinh viên Huế cùng với Trần Vàng Sao. Ban đầu, việc viết thơ của ông chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của tòa soạn, cần có một.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Trung Thu. Việc tuân thủ quy tắc này không chỉ thể hiện sự tôn trọng mà còn đảm bảo tính thống nhất và chuyên nghiệp trong văn bản. Ví dụ minh họaĐể minh h.

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao
Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Sang và tổng Cao Đà quê ông, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất quê hương.Cuộc đời của nhà văn Nam Cao là hành trình vất vả của một con người tài năng.

Tiểu sử nhà văn Nam Cao
Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Hội có trụ sở chính đặt tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, một địa chỉ thuận tiện cho việc liên hệ và tổ chức các hoạt động ở miền Bắc.

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Có được một tác phẩm sống mãi cùng năm tháng cũng đã là quý giá.Trong bối cảnh văn học Việt Nam sau 1945, Nguyễn Thành Long được xếp vào nhóm những nhà văn.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tuân là tấm gương về sự kết hợp giữa tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm xã hội. Đối với Nguyễn Tuân, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật tr.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân
Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Lâm Thị Mỹ Dạ. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự ghi nhận của cộng đồng văn học và nhà nước đối với những đóng góp của ông.Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Quỳnh vượt xa ranh giới của một nhà thơ thông thường, bà đã trở thành một hiện tượng văn hóa cultural phenomenon, một biểu tượng của tình yêu và phẩm chất.

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh
Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Bắc, Tây Bắc.Năm 1950, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, từng làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Những trải nghiệm trong thời kỳ kháng chiến khôn.

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài
Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Lan Viên là một trong những nhà thơ được độc giả yêu mến nhất, thơ ông được truyền tụng rộng rãi qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ vì giá trị nghệ thuật.

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Chuyên mục thuc-hanh-ton-giao

An nhiên trong cơn mưa

An nhiên trong cơn mưa

Sự ồn ào ấy ấy cũng như tiếng mưa ập xuống, đều được gọi là tiếng ồn trắng. Tiếng ồn trắng là một khái niệm để chỉ tập hợp của các loại tiếng ồn mà con ng.

An nhiên trong cơn mưa
Tư duy xanh để sống an lành

Tư duy xanh để sống an lành

Điều này có thể khó khăn để thực hiện, nhưng sẽ không khó nếu chúng ta có một tư duy xanh để nương theo và hành động. Để biết cái gì là đúng, cái gì là sa.

Tư duy xanh để sống an lành
Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Với những người làm nhân sự, cuối tuần là thời điểm tái tạo và phục hồi sức lao động. Nhưng định nghĩa là một chuyện, còn tái tạo và phục hồi như thế nào.

Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần
Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến

Một khía cạnh khác, ta cũng nên biết rằng trong các loại thực phẩm thì hàm lượng chất xơ chiếm tương đối cao. Chất này sẽ giúp chúng ta no bền, hạn chế cơ.

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến
Tam bảo (Triratna – 三寶) là gì?

Tam bảo (Triratna – 三寶) là gì?

Tam bảo là 3 nơi nương tựa trong Phật giáo gồm Phật, Pháp, Tăng, dẫn dắt con người đến giác ngộ và giải thoát khổ đau.

Tam bảo (Triratna – 三寶) là gì?
Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn

Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn

Đôi nét về Trịnh Công Sơn Không cần quan tâm đến nhạc, thì nhiều người vẫn biết Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài ba. Tuy vậy, ngoài với vai trò nhạc sĩ,.

Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn
Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo

Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo

Tư duy đúng đắn Không vướng mắc, không chứa chấp những muộn phiền khổ đau trong người. Hiểu biết đúng đắn Trang bị kiến thức, quan điểm đúng đắn và hướn.

Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo
Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc

Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc

Trong khi sự thiên vị phản khoa học của chủ nghĩa chính thống tôn giáo đòi hỏi phải lên án, nếu chúng ta có một cái nhìn rộng hơn.

Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc
Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Sự gấp gáp của thời đại đã phá hủy nén nhang như thế nào? Những nét đẹp trong dòng chảy văn hóa lịch sử dần bị mai một khi nhịp sống hiện đại cần sự gấp g.

Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ