Khoa học thần kinh không xóa bỏ những vấn đề khó khăn nhất của triết học – mà buộc chúng ta phải suy nghĩ lại về nơi chốn tồn tại của chúng.
Mở đầu
Các triết gia và nhà khoa học từ lâu đã luôn song hành cùng nhau. Nếu nhìn đủ xa về quá khứ, thật khó để phân định ranh giới nơi triết học kết thúc và khoa học bắt đầu.
Trước khi có các công cụ đo lường thực tại, con người buộc phải dùng lý trí để tiếp cận nó, và chính dòng dõi trí tuệ ấy cuối cùng đã sinh ra phương pháp khoa học. Khi công nghệ tiến bộ và phạm vi quan sát mở rộng, các chuyên ngành dần tách khỏi triết học để tái cấu trúc thành những khoa học độc lập.
Thiên văn học đã quét sạch bầu trời khỏi các vị thần và cho thấy một vũ trụ vận hành theo lực hấp dẫn, không phải theo ý chí thần linh. Địa lý học vẽ bản đồ một Trái Đất không hề phẳng, rồi địa chất học định niên đại cho nó, phân tầng thời gian địa cầu bằng đồng vị và các lớp trầm tích. Vật lý học gộp thời gian vào không gian, và cùng với đó, tái hình dung con người không phải là thực thể tách rời khỏi tự nhiên, mà là sự tiếp nối của năng lượng và khối lượng của nó. Chúng ta không phải, như ban nhạc Pink Floyd từng gợi ý, những linh hồn lạc lối bơi trong một chiếc bể cá. Chúng ta là vật chất, loay hoay đi qua đời sống trong chuyển động tương đối tính.
Giờ đây, trong thế kỷ XXI, khoa học đang lần theo một bản đồ xuyên qua vùng chưa biết vĩ đại khác: tâm trí.
Những tiến bộ trong sinh quang tử học và chụp ảnh thần kinh đã đưa chúng ta đến gần hơn bao giờ hết với một bức tranh vật chất về tâm trí, nhưng các câu hỏi mà chúng ta đang chạm tới không hề tan biến dưới cái nhìn thực nghiệm. Ngược lại, khoa học thần kinh đã quay trở lại trước ngưỡng cửa của triết học, thử thách giới hạn của những câu hỏi bền bỉ nhất của nó.
Ý chí tự do
Vào đầu thế kỷ XIX, nhà vật lý người Pháp Pierre – Simon Laplace (1749 – 1827) hình dung vũ trụ như một cỗ máy đồng hồ, trong đó mỗi bánh răng quay theo sự tuân phục nghiêm ngặt các quy luật tự nhiên. Ông tưởng tượng ra một con quỷ, nếu biết vị trí và động lượng của mọi hạt, có thể dự đoán tương lai với độ chính xác tuyệt đối. Thí nghiệm tư tưởng này kết tinh chủ nghĩa tất định cổ điển: một thế giới không có tự do, chỉ có tính tất yếu.
Khoa học thần kinh hiện đại đôi khi khiến người ta cảm thấy như con quỷ của Laplace khoác lên mình hình hài sinh học; nếu suy nghĩ và hành động nảy sinh từ cỗ máy vật lý của bộ não, liệu chúng ta có hơn gì những bánh răng trong cùng chiếc đồng hồ vũ trụ ấy hay không.
Nhà sinh học thần kinh tại Đại học Stanford, Robert Sapolsky (1957), đã đẩy lập luận đó đi xa trong tác phẩm Định đoạt: một khoa học về đời sống không có ý chí tự do (Determined: A Science of Life Without Free Will, 2023). Theo ông, bản chất tất định của vũ trụ thần kinh là một lập luận toàn diện chống lại ý chí tự do. Mọi hành động đều là kết quả tất yếu của các điều kiện có trước – từ gen di truyền, căng thẳng, cho tới bối cảnh xã hội. Ngay cả không khí trong căn phòng, ông lưu ý, cũng tinh vi điều chỉnh hành vi của chúng ta.
Một số trường hợp dường như củng cố cho quan điểm này. Trong tác phẩm Não bộ của chúng ta, bản thân chúng ta (Our Brains, Our Selves, 2013), nhà thần kinh học tại Đại học Oxford, Masud Husain (1966), kể lại những câu chuyện về các bệnh nhân bị tái định hình sâu sắc bởi bệnh tật và chấn thương. Một bệnh nhân tên David phát triển trạng thái thờ ơ trầm trọng sau một cơn đột quỵ làm tổn thương các mạch liên kết thùy trán với hạch nền – những cấu trúc đóng vai trò then chốt trong động lực và hành động. Anh tỉnh táo, nhận thức đầy đủ và đủ khả năng thể chất, nhưng ngọn lửa nội tâm dường như đã tắt. Các nhà thần kinh gọi hội chứng này là chứng vô ý chí, tức sự mất đi của ý muốn. Trước khi được điều trị, người khác phải liên tục nhắc nhở anh ngay cả với những hành động đơn giản, nhưng chỉ một loại thuốc tăng dopamine đã đưa David trở lại con người đầy tham vọng trước kia. Việc liệu loại thuốc này có khôi phục ý chí tự do hay không là một câu hỏi triết học. Điều khó có thể phủ nhận là bất cứ thứ gì chúng ta gọi là ý chí – tự do hay không – đều phụ thuộc phần lớn vào sức khỏe của vài centimet khối mô não và nồng độ của một chất dẫn truyền thần kinh cụ thể.
Hệ thống pháp luật, tâm thần học và đạo đức học đều vận hành trên một thang độ về năng lực chủ thể. Chẳng hạn, tòa án phân biệt giữa tội phạm được thực hiện với sự tính toán trước và tội phạm xảy ra trong trạng thái loạn thần.
Khung trách nhiệm phân bậc này phù hợp hơn với quan điểm dung hòa cho rằng chủ nghĩa tất định và ý chí tự do có thể cùng tồn tại. Triết gia và nhà khoa học nhận thức Daniel Dennett (1942) lập luận rằng tự do và trách nhiệm nảy sinh từ việc hành động theo chính động cơ của bản thân. Phản biện quen thuộc lập tức xuất hiện: Nhưng những động cơ đó đến từ đâu. Ai đã chọn chúng.
Lối lập luận này lặp đi lặp lại bất tận trong các tranh luận về ý chí tự do – một trò đập chuột triết học của nguyên nhân gây ra nguyên nhân. Có một ẩn dụ cho sự bế tắc này: rùa chồng lên rùa. Cụm từ xuất phát từ một truyện dân gian, trong đó một nhà khoa học giải thích rằng Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Một phụ nữ trong khán phòng phản đối: Thật vô lý, cậu trai trẻ. Thế giới nằm trên lưng một con rùa khổng lồ. Khi được hỏi con rùa đứng trên cái gì, bà đáp: Toàn là rùa cả.
Một lối thoát khỏi sự hồi quy vô hạn này là ngừng chạy nước rút ngược về khởi nguyên của thời gian và thay vào đó chú ý tới những gì thực sự diễn ra trong khoảnh khắc hiện tại của một bộ não đang sống.
Quá khứ định hình chúng ta, nhưng định hình không đồng nghĩa với giật dây. Quan hệ nhân quả là môi trường nơi năng lực chủ thể xuất hiện; nó là điều kiện tiên quyết của ý chí tự do. Một sinh vật không thể bị ảnh hưởng bởi lịch sử hay môi trường của mình cũng sẽ là sinh vật không thể học hỏi, lập kế hoạch hay tiếp nhận lời khuyên. Theo nghĩa rất trực tiếp, cần có nguyên nhân để trở thành loại hệ thống có thể cân nhắc lựa chọn. Như Dennett viết: quá khứ không kiểm soát bạn; nó gây ra bạn, nhưng không điều khiển bạn. Ngay cả những nghiên cứu mà Sapolsky viện dẫn để minh họa cho tính tất định sinh học và bối cảnh cũng dựa trên thống kê. Chúng xử lý các phân bố và giá trị trung bình, chứ không phải những tất yếu một – một. Trên thực tế, não bộ và hành vi phải được mô tả theo xác suất.
Não bộ không giống các hệ vật lý đơn giản trong giáo trình vật lý. Nó không phải con lắc dao động, khí lý tưởng hay một mạch điện gọn gàng với bảng vào – ra cố định. Đó là một mạng lưới khổng lồ, phi tuyến, có khả năng thích nghi. Hàng tỷ nơ – ron – mỗi nơ – ron với hàng nghìn khớp thần kinh – tạo thành các vòng phản hồi dày đặc, liên tục được tái cấu trúc. Khi các nơ – ron này tương tác, hành vi tập thể của chúng không còn giống một chuỗi nguyên nhân đơn giản.
Tại bất kỳ thời điểm nào, những liên minh nơ – ron khác nhau có thể tạm thời đồng bộ, hình thành một nhóm chức năng để dẫn dắt nhận thức hay hành động, rồi lại tan rã. Các nhà khoa học thần kinh gọi đây là một hệ siêu ổn định; nó không khóa chặt vào một khuôn mẫu duy nhất. Hoạt động của não lang thang qua một địa hình gồm nhiều khuôn mẫu khả dĩ. Một số vùng của địa hình đó là các điểm hút, những cấu hình ưa thích mà hệ thống có xu hướng rơi vào. Những vùng khác là sống núi hay khe chuyển tiếp cho phép dịch chuyển giữa các điểm hút.
Tất cả những điều này dĩ nhiên chịu ảnh hưởng của di truyền và kinh nghiệm, nhưng nó không vận hành như một hàng quân domino. Trong địa hình xác suất ấy, các mạch thần kinh không áp đặt một số phận duy nhất không thể thoát, mà chỉ thiên lệch các khả năng. Với trạng thái hiện tại của bạn – tâm trạng, mức độ mệt mỏi, các tín hiệu trong phòng – một số kiểu hoạt động có xác suất bùng phát cao hơn những kiểu khác. Quan hệ nhân quả ràng buộc thực đơn các khả năng, nhưng không viết sẵn chuỗi trạng thái chính xác mà bạn sẽ đi qua. Đây là nơi con quỷ của Laplace bắt đầu chùn bước.
Do động lực nền tảng là phi tuyến, những khác biệt rất nhỏ về thời điểm hay đầu vào, trong điều kiện phù hợp, có thể được khuếch đại thành các kết cục rất khác nhau. Lý thuyết hệ động lực gọi hiện tượng này là sự phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu. Trong não bộ, sự nhạy cảm đó lộ diện tại ranh giới giữa các lựa chọn cạnh tranh, nơi những dao động li ti – thêm một xung điện ở đây, chậm vài mili giây ở kia – có thể nghiêng cán cân cho điểm hút nào thắng thế. Đây không phải là tính bất định kỳ diệu sinh ra tự do; mà là sự nhạy cảm được đặt đúng chỗ để các tín hiệu kiểm soát có thể tạo khác biệt. Đó là một đặc tính hoàn toàn vật chất trong tổ chức của não, để ngỏ một khe hẹp cho thứ gì đó giống ý chí tự do.
Một quyết định không đòi hỏi sự phá vỡ ma thuật của chuỗi nhân quả. Nó là sự tái cấu hình động lực của hệ thống: một chuyển dịch trong liên minh nơ – ron chiếm ưu thế, một sự đổi hướng của dòng xác suất trong một mạng lưới tuân theo quy luật. Về lý thuyết, bất kỳ mức độ năng lực chủ thể nào lớn hơn không cũng có thể đủ để làm lệch kim.
Gọi điều này là ý chí tự do có thể kéo giãn thuật ngữ, nhưng nó nắm bắt một dạng năng lực chủ thể tự nhiên: khả năng của một hệ vật lý sử dụng chính tổ chức nội tại và lịch sử của mình để điều hướng các khả năng nhân quả. Tính toán thần kinh vận hành hoàn toàn trong các định luật vật lý. Không một truyền dẫn khớp thần kinh nào vượt quá tốc độ ánh sáng; không một điện thế hoạt động nào vi phạm các phương trình Maxwell. Thế nhưng não bộ chuyển hóa các định luật ấy thành những bậc tự do. Não không phải xúc xắc thuần túy, cũng không phải đồng hồ thuần túy; nó nằm đâu đó ở giữa. Không gian trung gian ấy có lẽ chính là nơi cư trú của bất cứ điều gì đáng được cứu vãn dưới tên gọi ý chí tự do.
Khủng hoảng hiện sinh về ý nghĩa
Chủ nghĩa hiện sinh nảy sinh từ sự sụp đổ của tính chắc chắn thần học. Trong thế kỷ XVIII và XIX, Thượng Đế đã chết, hoặc đang hấp hối, và nhân loại thấy mình bị cắt đứt khỏi giàn giáo đạo đức từng neo giữ thế giới của họ. Trong khoảng chân không ấy, các nhà tư tưởng hiện sinh sơ kỳ như Søren Kierkegaard (1813 – 1855), và sau đó là Friedrich Nietzsche (1844 – 1900), bác bỏ ý niệm rằng lý trí đơn thuần có thể thay thế những gì đã mất.
Đến giữa thế kỷ XX, sau hai cuộc thế chiến và nỗi kinh hoàng của Auschwitz, chính lý trí cũng hiện ra như một ngẫu tượng giả. Viết giữa đống đổ nát của Paris hậu chiến, các nhà hiện sinh làn sóng thứ hai như Jean – Paul Sartre (1905 – 1980) và Simone de Beauvoir (1908 – 1986) nhận thấy cả hệ thống quản trị đạo đức tôn giáo lẫn thế tục đều sụp đổ dưới sức nặng của sự tàn bạo con người. Thứ còn lại là cá nhân, đơn độc với gánh nặng lựa chọn.
Với một con dao rọc giấy, Sartre giải thích, bản chất có trước tồn tại. Người thợ nghĩ ra mục đích trước, rồi con dao mới được tạo ra. Con người thì không gặp may như vậy. Chúng ta trao mục đích cho con dao, nhưng ai trao mục đích cho chúng ta. Theo Sartre và nhiều nhà hiện sinh khác, chính chúng ta làm điều đó. Vì ý nghĩa không được ban phát, nó phải nảy sinh từ cách chúng ta sống và hành động trong thế giới.
Albert Camus (1913 – 1960), viết vài năm sau, cho rằng dự án này là lạc hướng. Chính cơn đói khát ý nghĩa mới là vấn đề, ông lập luận. Sự lệch pha giữa khát vọng ấy và sự dửng dưng của vũ trụ là điều ông gọi là cái phi lý. Mọi nỗ lực hòa giải sự tương ứng bất khả này đều là, theo Camus, tự sát triết học. Theo quan điểm của ông, chúng ta phải sống vì chính cuộc đấu tranh, trong nhận thức đầy đủ về tính vô ích của nó.
Ngày nay, chủ nghĩa hiện sinh đã bước vào giai đoạn thứ ba – một trào lưu mà các triết gia Owen Flanagan (1949) và Gregg Caruso (1971) gọi là chủ nghĩa hiện sinh thần kinh. Nếu ý thức là vấn đề khó trong khoa học về tâm trí, thì vấn đề thực sự khó, Flanagan viết, là giải thích làm thế nào ý nghĩa chủ quan có thể nảy sinh trong một bộ não thuần vật chất. Câu trả lời của ông – chủ nghĩa tự nhiên hướng thiện – gợi ý rằng ý nghĩa có thể được nghiên cứu bằng thực nghiệm, thông qua việc xem xét điều gì cho phép con người thịnh vượng.
Tôi không nhất thiết phản đối. Tuy nhiên, từ góc nhìn của tôi, câu hỏi này cần được xoay nhẹ trục. Ý nghĩa, tôi cho rằng, không phải thứ chúng ta lựa chọn để tạo ra; nó là thứ xảy đến với chúng ta. Trở nên có ý thức đồng nghĩa với việc chuyển dịch cảm giác thành kinh nghiệm. Bộ não không thể không áp đặt tính mạch lạc lên dòng dữ liệu cảm giác – khâu nguyên nhân với hệ quả, khoảnh khắc với khoảnh khắc – bởi đó là cơ chế mà qua đó nó kiến tạo và tri nhận thực tại.
Tại Đại học Northwestern, các nhà nghiên cứu yêu cầu tình nguyện viên viết về quá khứ hoặc tương lai, tưởng tượng bản thân trong trải nghiệm ấy. Dù những cảnh họ hình dung là vui hay buồn dường như không quan trọng – chính hành vi mô phỏng thời gian đã làm tăng cảm nhận ý nghĩa mà họ tự báo cáo. Và mức độ chi tiết họ đưa vào trải nghiệm càng lớn, hiệu ứng trung bình càng mạnh. Điều này cho thấy ý nghĩa có tính đối thoại, nảy sinh khi tham gia vào tiến trình. Chính hành vi sống động với kinh nghiệm của mình, và với sự mở ra của thời gian, dường như nuôi dưỡng một phần cơn đói hiện sinh của chúng ta, mà đừng quên, vốn là lỗi của bộ não ngay từ đầu.
Bộ não kiến tạo cơn đói ý nghĩa của chúng ta, cũng như chính nó hình dung ra ý nghĩa. Không ai khác trải nghiệm ý nghĩa, ngoại trừ, có lẽ, một số sinh vật thông minh khác với nỗi tuyệt vọng hiện sinh vẫn mang tính riêng tư. Ý nghĩa luôn là một cấu trúc do não tạo ra. Nó vốn là của chúng ta ngay từ đầu.
Nhìn theo cách này, cái phi lý của Camus mang một kết cấu mới. Vũ trụ vô cảm bởi dĩ nhiên nó phải như vậy. Nó chính là môi trường từ đó cảm giác nảy sinh. Nó cung cấp một thế giới cảm giác, rồi các sinh vật tiến hóa để cảm nhận chúng – sinh ra những năng lực giúp chúng định hướng thực tại vật chất và, cốt yếu, sống sót trong đó. Vì lý do gì khác chúng ta có thể thức tỉnh, nếu không phải vì các áp lực tiến hóa ưu tiên sự sống còn của những sinh vật cảm nhận được thực tại. Tính phi lý đơn giản là trạng thái tự nhiên của ý thức thức tỉnh từ vật chất không đáp ứng.
Chúng ta, dù muốn hay không, là những sinh vật hiện tượng học. Dù định nghĩa thế nào, ý nghĩa rốt cuộc là một cảm nhận được về tính mạch lạc và giá trị, không phải là một sự kiện của thế giới mà là một quan hệ với thế giới. Điều này dịch chuyển nhiệm vụ hiện sinh. Ý nghĩa không phải thứ phải được sản xuất từ hư vô, mà là một cảm nhận nảy sinh khi chúng ta nuôi bộ não bằng những kiểu mẫu và môi trường mà nó có thể chuyển hóa một cách đáng tin cậy thành cảm giác mạch lạc. Điều này không khác mấy với chủ nghĩa tự nhiên hướng thiện mà Owen Flanagan gợi ý. Tôi đã nói rồi, tôi không nhất thiết phản đối.
Cái tôi
Nếu lần theo dấu chân các triết gia thế kỷ XX truy đuổi cái tôi, điều gây ấn tượng là mức độ bất an mà đối tượng này liên tục dịch chuyển. Martin Heidegger (1889 – 1976) đưa nó ra khỏi hộp sọ và đặt vào thế giới. Theo ông, tính ngã được biểu hiện trong những gì bạn làm, những gì bạn quan tâm, và cách đời sống của bạn được tổ chức dưới nhận thức về cái chết, hay hướng – về – cái – chết.
Maurice Merleau – Ponty (1908 – 1961) thu hẹp tiêu điểm từ thế giới về thân thể, mô tả cái tôi như một cơ thể được sống. Với ông, cái tôi không phải là câu chuyện bạn kể, mà là cảm giác tiền phản tư về tính thuộc – về – tôi đan bện trong tri giác và vận động.
Derek Parfit (1942 – 2017) đặt nó vào một thứ trừu tượng hơn: trong sự tổ chức nhân quả liên tục của đời sống tinh thần. Ông đi đến kết luận này thông qua một thí nghiệm tư tưởng. Hãy tưởng tượng não của bạn bị chia đôi và cấy ghép vào hai cơ thể mới. Cơ thể nào là bạn. Parfit lập luận rằng bản sắc, như chúng ta hình dung, không thể làm công việc mà ta mong muốn, bởi bản sắc không thể phân nhánh. Sự liên tục tâm lý thì có thể – và đó, theo ông, mới là nền tảng thực sự cho mối quan tâm của bạn về tương lai. Bạn lập kế hoạch, giả định rằng cái tôi tương lai sẽ nhớ quá khứ của bạn, mang theo các ý định của bạn, và cảm nhận hệ quả của những gì bạn làm hiện tại. Sau ca cấy ghép, đời sống của bạn tiếp diễn trong hai dòng, và điều bạn quan tâm hiện diện ở cả hai. Vì vậy, Parfit gợi ý, bạn có thể tồn tại như hai.
Ở trên, chúng ta có ba câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi: cái tôi sống ở đâu. Vào thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, một ứng viên mới đã được phát hiện.
Khi bạn để sự chú ý trôi vào bên trong – về quá khứ, tương lai, hay độc thoại nội tâm – mạng lưới chế độ mặc định bắt đầu hoạt động. Nhà thần kinh học Marcus Raichle (1946) lần đầu nhận thấy điều này khi một số vùng đường giữa của não bộ bừng hoạt động khi các tình nguyện viên của ông chờ đợi rảnh rỗi trong máy quét giữa các lượt thử nghiệm. Lang thang tâm trí là chức năng đầu tiên được liên kết với mạng lưới này. Kể từ đó, mạng lưới chế độ mặc định đã được gắn với ký ức tự truyện, sự suy tư lặp đi lặp lại, và tư duy quy chiếu bản thân – chính xác là những công việc nặng nhọc mà người ta kỳ vọng từ một hệ thống cái tôi tường thuật.
Khi mạng lưới này bị xáo trộn, hình dạng cảm nhận của cái tôi có thể thay đổi. Dưới tác động của chất thức thần, mạng lưới chế độ mặc định trở nên kém mạch lạc nội tại. Khi hoạt động của nó suy giảm, cái tôi có ranh giới và giọng kể cũng tan rã – một trạng thái được gọi là sự tan rã bản ngã. Đồng thời, cảm giác và cảm xúc tràn vào ý thức tự do hơn. Trải nghiệm có thể trở nên trực tiếp và bão hòa cảm xúc hơn, như thể giọng biên tập đã im lặng và thế giới ùa vào.
Sự mất nhân cách trông như hình ảnh phản chiếu u ám. Ở đây, các trung tâm của mạng lưới chế độ mặc định vẫn trò chuyện rôm rả, nhưng các liên kết của chúng với những mạng lưới nổi bật và cảm nhận nội tạng bị suy yếu. Phần não duy trì lời bình luận liên tục về tôi vẫn hoạt động, đôi khi còn quá mức, nhưng các đối tác đối thoại của nó trong cơ thể và não cảm xúc đã im lặng. Bệnh nhân mô tả cảm giác như một khán giả bị niêm kín sau tấm kính. Họ biết mình là ai, và nhớ các sự kiện trong đời. Thứ thiếu vắng là cảm giác thuộc – về – tôi của kinh nghiệm.
Sự mất nhân cách phơi bày giới hạn của những gì tính liên tục tâm lý của Parfit có thể giải thích. Sự liên tục có thể đủ để neo dòng chảy tiến về phía trước của ký ức, ý định và tính cách, nhưng nó không đủ cho hiện tượng học của tính ngã. Trong sự mất nhân cách, cái tiếp diễn còn đó; cảm giác thuộc – về – tôi thì không.
Kinh nghiệm không phải là bản sao trung thực của thực tại bên ngoài, hay của nội tạng bên trong; nó là lời giải thích Bayes tốt nhất của não bộ về các đầu vào cảm giác nội tạng. Bạn không thể thấy đồng tử của mình giãn ra; bạn thường không thể định vị chính xác một chuyển dịch nội tạng trong không gian hay thời gian. Điều đó buộc não phải dựa nhiều vào các mô hình ước lượng, đưa ra những phỏng đoán giúp nó tích hợp các tín hiệu nội cảm – như nhịp tim, hô hấp và nhiệt độ – với phản hồi cảm giác từ thế giới bên ngoài.
Trong sự mất nhân cách, hệ thống dường như hạ thấp trọng số của các tín hiệu nội cảm ấy, coi chúng là nhiễu và không nhiều thông tin. Mạng lưới chế độ mặc định tiếp tục diễn tập kịch bản của cái tôi, nhưng nó không còn được neo vào dòng nội tạng đi lên từ cơ thể. Từ bên trong, điều đó giống như cuộc đời của bạn tiếp tục trên lý thuyết trong khi ai đó khác đang sống nó.
Bộ não rốt cuộc là một cơ quan điều hòa, đó là lý do nhà khoa học thần kinh nhận thức Anil Seth (1972) mô tả chúng ta như những cỗ máy thú. Trước hết, chúng ta là các hệ thống kiểm soát sinh học, chỉ sau đó mới là những người kể chuyện phản tư. Hệ thần kinh xuất hiện muộn trong lịch sử tiến hóa, như những thiết bị chuyên biệt giúp cơ thể dự đoán và tránh nguy hiểm. Tri giác và hành động tiến hóa để phục vụ việc giữ cho cơ thể sống, vì thế kinh nghiệm của chúng ta không bao giờ thực sự phi thân thể.
Merleau – Ponty, có vẻ, đã chạm đúng điều gì đó.
Dẫu vậy, Seth lại một lần nữa tái định vị cái tôi. Ông đề xuất rằng tính ngã có ý thức nảy sinh từ vai trò của não như một hệ thống kiểm soát thân thể dựa trên dự đoán. Cảm giác là một cái tôi, ông lập luận, là nỗ lực tốt nhất của não nhằm điều hòa cơ thể, tường thuật và thế giới thành một lập trường mạch lạc. Tính ngã sống trong mô liên kết gắn câu chuyện với cảm giác.
Chất thức thần và sự mất nhân cách mang tính chỉ dẫn chính vì chúng tách rời những thỏa ước đó. Một bên nới lỏng người kể chuyện trong khi làm tràn ngập cơ thể; bên kia bảo toàn người kể chuyện nhưng làm câm lặng quyền sở hữu.
Dự án cốt lõi của một hệ sống không phải là hiểu thế giới; mà là tránh chết trong đó. Tri giác, hành động, ký ức, và thậm chí cả cơn đói ý nghĩa của chúng ta đều là những khai triển của ràng buộc cơ bản ấy. Bộ não không được làm từ vật chất thiên thể. Nó là mô và nước muối, được sưởi ấm, nuôi dưỡng và liên tục nhận thông tin từ phần còn lại của sinh vật.
Một bộ não bị tách khỏi cơ thể không phải là một tâm trí; nó là một cơ quan đang nhanh chóng suy kiệt.
Bên trong sinh vật nuôi dưỡng nó, bộ não trở thành một hệ động lực có thể mô hình hóa tương lai của chính mình, tranh luận với chính mình về trách nhiệm, chịu đựng sự vắng mặt của ý nghĩa, và cảm thấy mình là một ai đó hơn là một cái gì đó. Chúng ta tri nhận thế giới và chính mình bởi vì, chứ không phải bất chấp việc, là những cỗ máy thú.
