Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

An trú trong hiện tại | Chương 02

Không có đồng lúa, bác tiều phu không có cơm ăn và không thể đốn gỗ về cho nhà sản xuất giấy in. Cuốn sách có mặt là nhờ sự có mặt của những cái không phải.

17 phút đọc.

0 lượt xem.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhà sư, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội và hòa bình nổi tiếng trên thế giới. Ông là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân. Ông cũng là người đưa ra khái niệm chánh niệm, một phương pháp tu tập và sống đời giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với bản thân, với mọi người và với thiên nhiên.

Hầu hết các ngôi chùa ở xứ ta đều có đại hồng chung. Đại hồng chung là chuông lớn mà mỗi khi được thỉnh lên thì âm thanh có thể nghe được từ thôn trên xuống xóm dưới. Đại hồng chung được thỉnh vào buổi khuya và buổi tối, mỗi buổi đúng 108 tiếng. Người thỉnh chuông được gọi là tri chung.

Công phu thiền tập gồm có hai phần: chỉ và quán. Chỉ tức là dừng lại. Dừng lại sự tán loạn, dừng lại sự quên lãng. Dừng lại để tập trung tâm ý vào một đối tượng (để mà xét nghiệm đối tượng đó). Như vậy chỉ đưa tới định. Khi tâm ý đã được tập trung vào đối tượng, hành giả quán chiếu đối tượng đó, quán chiếu để thấy được thực tánh của đối tượng đó. Đây là công phu quán. Quán chiếu cho bền bỉ và sâu xa, hành giả thấy được bản chất đích thực của đối tượng quán sát. Cái thấy này là Tuệ. Tuệ là sự hiểu biết, là cái thấy chính xác về sự vật. Nếu chỉ đưa tới định thì quán đưa tới tuệ.

Để thực hiện sự tập trung tâm ý, hành giả thực tập phép đếm hơi thở hay theo dõi hơi thở. (xem chương hai). Có chỉ là bắt đầu có quán, và khi đã có quán tức là đã có chỉ. Trong chương vừa rồi, chúng ta đã nói tới cảm giác (thọ) như một đối tượng quán chiếu. Nhưng đối tượng quán chiếu đó không phải chỉ là cảm giác. Cảm giác chỉ là một trong năm dòng hiện tượng gọi là ngũ uẩn.

Ngoài cảm giác (thọ), ta còn cơ thể (sắc), tri giác (tưởng), tâm tư (hành) và nhận thức (thức) nữa. Tâm Kinh Bát Nhã cho biết đức Bồ Tát Quán Tự Tại nhờ quán chiếu cả năm uẩn cho nên vượt thoát khỏi mọi khổ ách ràng buộc.

Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Satipatthànaasutra) dạy ta quán niệm về thân thể, cảm giác, tâm ý và đối tượng tâm ý. Tâm ý ở đây bao gồm cả tri giác, tâm tư và nhận thức. Như vậy bốn đối tượng quán niệm cũng hàm chứa cả năm uẩn.

Sau đây là sơ lược những đối tượng quán niệm theo Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Tứ Niệm Xứ Kinh)

  1. a. Quán niệm về thân thể

  2. Quán niệm về hơi thở

  3. Hơi thở vào có ý thức

  4. Hơi thở ra có ý thức

  5. Hơi thở dài (vào) có ý thức

  6. Hơi thờ dài (ra) có ý thức

  7. Hơi thở ngắn (vào) có ý thức

  8. Hơi thở ngắn (ra) có ý thức

  9. Thở vào, hơi thở, ý thức và thân thể là một

  10. Thở ra, hơi thở, ý thức và thân thể là một

  11. Thở vào, làm cho toàn thân an tịnh

  12. Thở ra làm cho toàn thân an tịnh

  13. b. Quán niệm về bốn tư thế của thân thể

  14. Đi biết là đi

  15. Đứng biết là đứng

  16. Ngồi biết là ngồi

  17. Nằm biết là nằm

  18. c. Quán niêm về những động tác của thân thể

(Ý thức khi đi tới đi lui, khi nhìn, khi mặc áo, ăn uống, đại tiện, tiểu tiện, nói chuyện, giặt áo, làm việc…)

  1. d. Quán niệm về những bộ phận của cơ thể

(Tóc, lông, răng, gân, xương, thận, tủy, tim, phổi, gan, ruột, nước miếng, máu, mồ hôi…)

  1. đ. Quán niệm về những yếu tố tạo nên cơ thể (nước, hơi nóng, không khí, vật thể…)

  2. e. Quán niệm về sự tàn hoại của một tử thi trong nghĩa địa:

(Thi thể trương phồng lên, xanh đen lại, thối nát ra…)

B._ Quán niệm về cảm giác._

a. Ý thức về khổ thọ đang có mặt

b.Ý thức về lạc thọ đang có mặt

c. Ý thức về xả thọ đang có mặt

d. Quán chiếu về lạc thọ có nguồn gốc sinh vật

đ. Quán chiếu về lạc thọ có nguồn gốc tâm lý

e. Quán chiếu về khổ thọ có nguồn gốc sinh vật lý

g. Quán chiếu về khổ thọ có nguồn gốc tâm lý

h. Quán chiếu về xả thọ có nguồn gốc sinh vật lý

i. Quán chiếu về xả thọ có nguồn gốc tâm lý

C. Quán niệm về Tâm ý

a. Ý thức khi tham

b. Ý thức khi không tham

c. Ý thức khi giận

d. Ý thức khi không giận

d. Ý thức khi có lầm lạc

e. Ý thức khi không lầm lạc

f. Ý thức khi tâm tập trung

g. Ý thức khi tâm tán loạn

h. Ý thức khi tâm mở rộng

i. Ý thức khi tâm khép kín

j. Ý thức khi tâm có giới hạn

k. Ý thức khi tâm vô lượng

l. Ý thức khi tâm có định

m. Ý thức khi tâm không có định

n. Ý thức khi tâm có giải thoát

o. Ý thức khi tâm không có giải thoát

D. Quán niệm về đối tượng Tâm ý

a. Quán niệm về năm loại chướng ngại

1. Ý thức về sự có mặt của tham đắm

2. Ý thức về sự vắng mặt của tham đắm

3. Ý thức về sự có mặt của giận hờn

4. Ý thức về sự có mặt của hôn trầm

5. Ý thức về sự vắng mặt của hôn trầm

6. Ý thức về sự có mặt của kích thích

7. Ý thức về sự cơ mặt của nghi ngờ

8. Ý thức về sự vắng mặt của nghi ngờ

b. Quán niệm về năm uẩn

1. Quá trình sinh diệt của sắc

2. Quá trình sinh diệt của thọ

3. Quá trình sinh diệt của tưởng

4. Quá trình sinh diệt hành

5. Quá trình sinh diệt của thức

c. Quán niệm về giác quan và đối tượng

1. Mắt và hính sắc

2. Tai và tiếng

3. Mùi và hương

4. Lưỡi và vị

5. Thân và xúc

6. Ý và pháp

d. Quán niệm về bảy yếu tố giác ngộ

1. Sự có mặt hay vắng mặt của niệm

2. Sự có mặt hay vắng mặt của trạch pháp

3. Sự có mặt hay vắng mặt của tinh tiến

4. Sự có mặt hay vắng mặt của hỷ lạc

5. Sự có mặt hay vắng mặt của khinh an

6. Sự có mặt hay vắng mặt của định

7. Sự có mặt hay vắng mặt của hành xả

đ. Quán niệm về bốn sự thật

1.Sự có mặt của khổ đau

2. Những nguyên nhân đưa tới khổ đau

3. Sự vắng mặt của khổ đau

4. Con đường thực hiện an lạc

Duyệt qua những đối tượng quán niệm đã được liệt kê trong kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm ta thấy hơi thở đi trước, tiếp theo là những tư thế và động tác của cơ thể. Ta đã đề cập đến cách thở để làm cho thân tâm ân lạc trong các chương I và II. Ta nên áp dụng hơi thở có ý thức trong những tư thế và động tác của cơ thể. Ngồi xuống thì ta biết ta ngồi xuống. Đứng dậy thì ta biết là ta đứng dậy. hơi thở ý thức giữ gìn không cho ta rơi vào thế giới quên lãng (thất niệm) lúc lái xe, giặt áo, lau nhà, rửa bát, pha trà… ta có thể thực tập quán niệm để có ý thức về mỗi động tác của cơ thể. Sống đời sống hàng ngày có chánh niệm như thế ta mới đủ chăm chú để quán chiếu vạn pháp để thấy rõ thật tướng của vạn pháp. Chánh niệm phải bền bỉ như lửa nấu cơm. Nếu lửa tắt rồi đỏ, đỏ rồi tắt, thì cơm không bao giờ chín.

Tiếp theo hơi thở và động tác của cơ thể, là sự quán chiếu về những bộ phận cơ thể, những yếu tố tạo nên cơ thể và sự tàn hoại của cơ thế. Hình hài của ta, ta phải nhìn cho rõ. Ta thường nghĩ rằng cơ thể ta không xa lạ gì đối với ta, kỳ thực là đa số trong chúng ta chưa thiết lập được liên lạc thân hữu với cơ thể chính chúng ta. Chúng ta biết rất ít về cơ thể của chúng ta, dù chúng ta đã học qua sinh vật học. Có khi nào ta nhìn bàn tay ta và quán chiếu để thấy được rằng những thế hệ đã qua và những thế hệ sắp đến đều có mặt trong bàn tay ấy? Ai là kẻ trao truyền hình hài này và ai là kẻ tiếp thọ? Người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp thọ là một hay là ba? Hình hài ta có liên hệ gì tới nắng, tới mưa, tới rừng cây, tới ruộng lúa, tới sỏi đá, tới những động vật thời tiền sử? Hình hài ta bắt đầu có mặt từ điểm nào trong thời gian? Tại sao từ không mà hình hài ta trở thành có? Và tại sao đã có lại trở thành không? Cái chết là cái gì? Cái chết có động được đến ta không? Những câu hỏi đó đều có liên hệ trực tiếp đến hình hài ta.

Tiếp theo cơ thể là cảm giác. Ta đã đề cập tới cảm giác trong chương VI. Quán chiếu về cảm giác, ta có cơ hội quán chiếu về cơ thể và tâm ý.

Tiếp theo cảm giác, là tâm ý. Quán chiếu về tâm ý tức là ý thức được những gì xảy ra trong tâm ý và nhìn sâu vào những hiện tượng tâm ý ấy. Khi tâm ý ta xao xuyến chẳng hạn, ta biết là ta đang xao xuyến, và ta nhìn kỹ tâm ý xao xuyến của ta để thấy được những gốc rễ của nó. Tâm ý và đối tượng tâm ý luôn luôn đi đôi với nhau. Xao xuyến luôn là xao xuyến về một điều gì, giận dữ luôn luôn là giận dữ về một điều gì, tham đắm luôn luôn là tham đắm một cái gì, suy tư luôn luôn là suy tư về một cái gì. Tâm ý gồm cả chủ thể lẫn đối tượng. Tâm ý hữu độc lập với đối tượng. Vì vậy khi quán chiếu tâm ý ta cũng đồng thời quán chiếu về đối tượng của tâm ý.

Đối tượng tâm ý, theo kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, trước hết là năm thứ chướng ngại của thiền quán. Đó là tham đắm, giận hờn, hôn trầm, sự kích thích và sự nghi ngờ. Có một trong năm chướng ngại đó trong khi thiền quán thì hành giả sẽ gặp khó khăn. Vì vậy hành giả phải ý thức về sự có mặt của chúng và quán chiếu về chúng để thấy được tự tính (tức là mọi gốc rễ) của chúng. Thấy được thì có thể vượt được.

Tiếp theo, là năm uẩn và mười hai lĩnh vực. Năm uẩn bạn đã biết rồi. Mười hai lĩnh vực tức là sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng. Ý cũng là một giác quan như năm giác quan khác, và ý cũng nương tựa vào não bộ và thần kinh hệ.

Năm uẩn và mười hai xứ bao gồm tất cả mọi hiện tượng sinh lý, vật lý và tâm lý. Tất cả đều được xem là đối tượng của tâm ý.

Cánh cửa giải thoát tối hậu là sự quán chiếu về tự tính của vạn pháp. Kinh Pháp ấn nói tới ba cánh cửa giải thoát gọi là tam giải thoát môn. Ba cửa ấy là không, vô tướngvô tác. Đây là những cánh cửa vương đạo để giải thoát khỏi sinh tử, sợ hãi và ưu tư.

Không: không ở đây có nghĩa là không có tự thể riêng biệt. Ví dụ cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay, nó không có một tự thể riêng biệt. Nó có mặt nhờ rừng cây, đám mây, mặt trời, bác tiều phu, đồng lúa, cảm hứng của nhà văn, mực in, keo đóng sách… Không có rừng cây thì không có bột giấy. Không có đám mây thì cây rừng thiếu nước không mọc được. Không có ánh sáng mặt trời rừng cây không xanh. Không có đồng lúa, bác tiều phu không có cơm ăn và không thể đốn gỗ về cho nhà sản xuất giấy in. Cuốn sách có mặt là nhờ sự có mặt của những cái không phải là cuốn sách: rừng cây, đám mây, mặt trời, đồng lúa, bác tiều phu…Nó không có tự thể riêng biệt và độc lập. Mọi hiện tượng đều như thế cả: vật nào cũng được cấu thành do những vật khác (do tất cả các vật khác). Đó là ý nghĩa của danh từ y tha khởi. Y là dựa trên. Tha là những cái khác. Khởi là có ra. Tiếng Phạn là Paratantra.

Không không có nghĩa là vắng mặt. Cuốn sách trong tay bạn có mặt chứ sao không. Không ở đây không có nghĩa đối lập với có. Nó chỉ có nghĩa là không có tự thể riêng biệt. Không có tự thể riêng biệt tức là vô ngã. Không phải vì không thể tự thể riêng biệt mà cuốn sách bạn cầm trên tay trở thành vô giá trị. Trái lại. Nhờ không có tự thể riêng biết mà cuốn sách mang trong nó tất cả những mầu nhiệm của sự sống. Bạn hãy nhìn cuốn sách để thấy đám mây bay trên trời xanh và rừng cây trải dài từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác. Một hành giả nổi tiếng là Long Thọ (Nagàrjuna), tác giả bộ Đại trí Độ Luận, sống ở thế kỷ II tây lịch, đã nói: _nhờ tính cách không có tự thể của chúng mà vạn pháp được thành lập: (Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành). Người Tây Phương nghe nói đến chữ không thường lấy làm e ngại; thực ra không là cánh cửa giúp ta ra khỏi thế giới hư vô và hoại diệt. Không là niềm hy vọng lớn lao. Bồ tát Quán Tự Tại quán chiếu một cách sâu sắc và thấy được tự tính không của năm uẩn cho nên vượt thoát khỏi mọi khổ đau, ách nạn và sợ hãi. Năm uẩn bao hàm tất cả mọi hiện tượng sinh lý, vật lý và tâm lý. Một ngón tay, một niềm đau, một tư tưởng, một bông hoa, một hòn đá cuội, một chiếc lá… cái gì cũng có thể là đối tượng quán chiếu của bạn. Bạn thử quán chiếu về tự tính của một chiếc lá mùa thu đi. Về sự có mặt của nó. Về sự vắng mặt của nó, về sự sinh diệt của nó. Về tự tính của nó. Chiếc lá ấy có thể đưa bạn thoát khỏi sinh tử, thoát khỏi mọi khổ đau và ách nạn.

Vô tướng: Hình tướng của vạn pháp mà ta nhận biết không phải là chân thể (thể tướng chân thực) của vạn pháp mà chỉ do tri giác của ta cung cấp. Tâm ý của ta có những khuôn khổ và ta chứa đựng thực tại trong những khuôn khổ đó. Những khuôn khổ đó là thời gian, không gian, trên, dưới, trong ngoài, sinh, diệt, thành hoại, còn mất, to nhỏ, một nhiều, có, không…Các pháp, trong tự thể của chúng, không mang những hình tướng ấy. Ví dụ ta dùng đủ loại bình chứa nước cái thì tròn, cái thì vuông, cái thì bầu dục… Nước không tròn, không vuông và cũng không bầu dục.

Nước còn là mây, là tuyết, là băng, là H2O. Các nhà khoa học vật lý mới cũng đều thấy rằng muốn đi vào lĩnh vực các chất thể cực vi thì phải bỏ tất cả những phạm trù nhận thức về vạn vật trong đời sống thực dụng hằng ngày mới trong có cơ hội hiểu được phần nào tính chất của các vật thể cực vi.

Thế giới mà ta trong đó đang sống chưa hẳng là thế giới của thực tại mà còn mang nặng tính cách của một thế giới của khái niệm. Ví dụ: con ốc, cây anh đào, hạt bụi, nước Tiệp Khắc. Khái niệm của ta về bốn thứ đó rất còn xa với thực tại của bốn thứ đó. Vượt ra khỏi mọi khái niệm ta mới đi thẳng vào được bản thân của thực tại. Thực tại vì không chịu nổi khuôn khổ của khái niệm là một nhận thức đã thoát ly được những khuôn khổ của khái niệm. Vô tướng tức là vượt khỏi thế giới khái niệm.

Khi bạn quán chiếu một chiếc lá mùa thu, bạn bắt đầu bằng khái niệm, khái niệm mùa thu và những khái niệm liên hệ. Nhưng khi đi sâu vào quán niệm và bắt đầu thấy được chiếc lá trong thực tại vô niệm của nó.

Vô tác: nhận thức gồm có chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Chiếc lá của bạn không phải là một vật nằm ngoài nhận thức của bạn. Nhận thức của bạn không đi tìm chiếc lá để mà tìm hiểu, bởi vì chiếc lá với nhận thức của bạn là một. Ý tưởng thế giới nằm ngoài nhận thức là một ý tưởng sai lạc. Ý tưởng thế giới nằm trong nhận thức cũng là một ý tưởng sai lạc. Tâm thức, cũng như đối tượng tâm thức, không chịu đựng được các khuôn khổ trong và ngoài. Đừng đi tìm, đó là vô tác.

Đừng đi tìm gì hết, kể cả giải thoát và giác ngộ. Giải thoát và giác ngộ nằm ngay trong thế giới sinh tử và khổ đau. Những ý niệm về khổ đau, sinh tử, giải thoát và giác ngộ cũng đều là những khuôn khổ của tâm ý: Ta đừng bỏ một cái để tìm một cái khác. Vô tác có nghĩa là không từ bỏ cái gì để tìm cầu một cái gì. Đứng tại chỗ mà thành Phật. Niết bàn và sinh tử đều là những hoa đốm giữa hư không, câu Kinh này có nghĩa như thế. Vô tác như vậy cũng có nghĩa là vô đắc.

Chiếc lá mà bạn quán chiếu có liên hệ mật thiết đến bạn. Quán chiếu cho thành khẩn thì nó trở thành bản thân bạn. Sinh tử của nó là sinh tử của bản thân bạn.

Ba cánh cửa giải thoát là những giáo lý vi diệu thậm thâm của đạo Bụt. Đây chỉ là một tập sách mỏng hướng dẫn thiền tập. Bạn cần tham cứu thêm. Mong cho bạn được gặp bạn, gặp thầy, gặp trợ duyên để đi xa trên con đường thực hiện.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 01 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 02 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 03 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 04 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 05 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 06 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 07 tại đây.

Đọc An trú trong hiện tại, chương 08 tại đây.

An trú trong hiện tại | Chương 02 670 – thu vien, van hoc, van hoc viet nam, doan van, ton giao, phat giao, thien van, thuc hanh ton giao, thich nhat hanh, an tru trong hien tai, an tru trong hien tai chuong 02, an tru trong hien tai 02.
An trú trong hiện tại | Chương 02.

Chuyên mục thien-van

An nhiên trong cơn mưa

An nhiên trong cơn mưa

Sự ồn ào ấy ấy cũng như tiếng mưa ập xuống, đều được gọi là tiếng ồn trắng. Tiếng ồn trắng là một khái niệm để chỉ tập hợp của các loại tiếng ồn mà con ng.

An nhiên trong cơn mưa
Tư duy xanh để sống an lành

Tư duy xanh để sống an lành

Điều này có thể khó khăn để thực hiện, nhưng sẽ không khó nếu chúng ta có một tư duy xanh để nương theo và hành động. Để biết cái gì là đúng, cái gì là sa.

Tư duy xanh để sống an lành
Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến

Một khía cạnh khác, ta cũng nên biết rằng trong các loại thực phẩm thì hàm lượng chất xơ chiếm tương đối cao. Chất này sẽ giúp chúng ta no bền, hạn chế cơ.

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến
Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn

Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn

Đôi nét về Trịnh Công Sơn Không cần quan tâm đến nhạc, thì nhiều người vẫn biết Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài ba. Tuy vậy, ngoài với vai trò nhạc sĩ,.

Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn
Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo

Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo

Tư duy đúng đắn Không vướng mắc, không chứa chấp những muộn phiền khổ đau trong người. Hiểu biết đúng đắn Trang bị kiến thức, quan điểm đúng đắn và hướn.

Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo
Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Sự gấp gáp của thời đại đã phá hủy nén nhang như thế nào? Những nét đẹp trong dòng chảy văn hóa lịch sử dần bị mai một khi nhịp sống hiện đại cần sự gấp g.

Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?
Chánh niệm cân bằng tinh thần và công việc

Chánh niệm cân bằng tinh thần và công việc

Trách nhiệm khi thực hành công việc là điều thiết yếu. Thành công khi thực hành công việc là một điều tất yếu. Nhưng đừng vì những điều ấy mà ta bỏ qua sự.

Chánh niệm cân bằng tinh thần và công việc
Tắm mưa để gột rửa tâm hồn

Tắm mưa để gột rửa tâm hồn

Bài viết trên đây nhằm chia sẻ và chỉ dẫn đến các bạn một liệu pháp cho tâm hồn. Hy vọng thông qua bài viết này các bạn sẽ hiểu, và có thêm một lựa chọn đ.

Tắm mưa để gột rửa tâm hồn
Chữa lành người khác là chữa lành bản thân

Chữa lành người khác là chữa lành bản thân

Tâm lý học trị liệu nói rằng, không nên xoa dịu vết thương của người khác bằng lập luận. Rằng chuyện của bạn cũng là chuyện bình thường như bao người khác.

Chữa lành người khác là chữa lành bản thân

Chuyên mục thuc-hanh-ton-giao

Ngũ căn và Ngũ lực là gì?

Ngũ căn và Ngũ lực là gì?

Ngũ căn là 5 căn bản tâm linh gồm Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Ngũ lực là sức mạnh của 5 căn này, giúp vượt qua chướng ngại.

Ngũ căn và Ngũ lực là gì?
Tam bảo là gì?

Tam bảo là gì?

Tam bảo là 3 nơi nương tựa trong Phật giáo gồm Phật, Pháp, Tăng, dẫn dắt con người đến giác ngộ và giải thoát khổ đau.

Tam bảo là gì?
Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc

Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc

Trong khi sự thiên vị phản khoa học của chủ nghĩa chính thống tôn giáo đòi hỏi phải lên án, nếu chúng ta có một cái nhìn rộng hơn.

Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc
Tứ chánh cần là gì?

Tứ chánh cần là gì?

Tứ chánh cần là 4 nỗ lực đúng đắn gồm ngăn ác, diệt ác, phát thiện, tăng thiện, giúp con người sống đúng theo Phật pháp.

Tứ chánh cần là gì?
Ngũ uẩn là gì?

Ngũ uẩn là gì?

Ngũ uẩn là 5 yếu tố cấu thành con người gồm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, giải thích bản chất vô ngã trong Phật giáo.

Ngũ uẩn là gì?
Ngũ giới là gì?

Ngũ giới là gì?

Ngũ giới là 5 nguyên tắc đạo đức cơ bản của Phật giáo gồm không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng chất say.

Ngũ giới là gì?
Tam pháp ấn là gì?

Tam pháp ấn là gì?

Tam pháp ấn là 3 dấu ấn của Phật giáo gồm Vô thường, Khổ, Vô ngã, thể hiện bản chất của vạn pháp và con đường giác ngộ.

Tam pháp ấn là gì?
Cô đơn thời hiện đại từ cách kết nối

Cô đơn thời hiện đại từ cách kết nối

Và thêm nữa, nhịp sống vội vã, nhiều lựa chọn có sẵn. Khiến con người ta rất hời hợt để tìm kiếm một mối quan hệ đủ sâu sắc và bền chặt. Điều này dẫn đến.

Cô đơn thời hiện đại từ cách kết nối
Học cách cố gắng mà không tạo ra sự mù quáng

Học cách cố gắng mà không tạo ra sự mù quáng

Sự thật rằng, thành công của mỗi người không đến từ sự may mắn hay cơ hội ăn may. Nó đến từ khả năng lựa chọn và theo đuổi đến cùng một vấn đề nào đó. Cho.

Học cách cố gắng mà không tạo ra sự mù quáng
Thực hành cầu nguyện để làm gì?

Thực hành cầu nguyện để làm gì?

Cầu nguyện là hành vi thực hành nghi lễ tâm linh. Bằng cách chắp hai tay lên trước ngực, mắt ngước lên tượng Chúa, tượng Phật hoặc vị thần mình đặt niềm t.

Thực hành cầu nguyện để làm gì?
Tứ diệu đế là gì?

Tứ diệu đế là gì?

Tứ diệu đế là 4 chân lý cốt lõi của Phật giáo gồm Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chỉ ra nguồn gốc khổ đau và con đường dẫn đến giải thoát.

Tứ diệu đế là gì?

Chuyên mục phat-giao

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn

Freud và Đức Phật đưa ra cách đối phó ham muốn. Tìm hiểu tư tưởng của họ về dục vọng và cách vượt qua để sống cân bằng trong xã hội hiện đại.

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn
Có cuộc sống sau khi chết không?

Có cuộc sống sau khi chết không?

Bạn sẽ chết. Cho dù bạn có quyền lực đến đâu, cầu nguyện chăm chỉ thế nào, hay công nghệ nano trở nên tiên tiến ra sao, bạn vẫn sẽ chết.

Có cuộc sống sau khi chết không?
3 cái chết của người mãn nguyện

3 cái chết của người mãn nguyện

Một số người sẽ đợi cho đến khi tất cả những người thân yêu của họ bay hoặc lái xe từ những nơi khác đến để nói lời từ biệt trước khi họ ra đi.

3 cái chết của người mãn nguyện
Tại sao dường như triết học đã chết?

Tại sao dường như triết học đã chết?

Triết học dường như mất sức hút trong xã hội hiện đại. Tìm hiểu tại sao con người chuyển từ tư duy sâu sắc sang theo đuổi vật chất và dự án mới.

Tại sao dường như triết học đã chết?
Những sách Phật giáo cho trẻ em

Những sách Phật giáo cho trẻ em

Sách Phật giáo cho trẻ em là công cụ giáo dục quý giá, giúp hình thành nhân cách và tư duy. Tìm hiểu những cuốn sách hay để hướng dẫn trẻ từ sớm.

Những sách Phật giáo cho trẻ em
Anattā Phật giáo dạy về sự buông xả

Anattā Phật giáo dạy về sự buông xả

Ý niệm anattā của Phật giáo dạy chúng ta buông bỏ cái tôi. Tìm hiểu cách áp dụng triết lý này để sống thanh thản và tìm thấy sự tự do trong tâm hồn.

Anattā Phật giáo dạy về sự buông xả
Kierkegaard về hai cách con người đánh mất nhân tính

Kierkegaard về hai cách con người đánh mất nhân tính

Khi nói đến việc đưa ra các quyết định có ý nghĩa và chân thật, chúng ta là một loài đang bước đi trên cây cầu hẹp với hai vực thẳm bao quanh lối đi của mình

Kierkegaard về hai cách con người đánh mất nhân tính

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ