Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 06

Các nhà chính trị luôn luôn đi tìm những nhà văn hóa để lợi dụng xin nói trắng với lại chữ lợi dụng không có nghĩa gì xấu, bởi vì chính trị nào cũng phải c.

20 phút đọc.

0 lượt xem.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhà sư, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội và hòa bình nổi tiếng trên thế giới. Ông là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân. Ông cũng là người đưa ra khái niệm chánh niệm, một phương pháp tu tập và sống đời giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với bản thân, với mọi người và với thiên nhiên.

Nguồn suối phát sinh của đạo Phật là một sự giác ngộ về sự thật của cuộc đời (tứ diệu đế), vì vậy đạo Phật có tính cách vượt lên trên cuộc đời. Sự vượt lên ở đây là một kết quả tất nhiên của giác ngộ, vì mọi giác ngộ đều đưa tới một sự thức tỉnh và giải phóng. Con người giác ngộ không còn là con người bị sai sử và chìm đắm trong cuộc đời nữa. Con người giác ngộ là con người tự do, vượt ra khỏi những tối tăm, quên lãng và phó mặc của cuộc đời.

Đức tin là một yếu tố quan trọng nhất trong những yếu tố cấu thành xã hội tính của con người. Nhờ xã hội tính mà các quốc gia hay các liên bang thực hiện được sự đoàn kết để thống nhất ý chí và tạo nên thế trung hòa giữa các khối trên thế giới. Không ai không công nhận tính chất trọng yếu của tôn giáo trong hiện tình chính trị cũng như trong lịch sử chính trị, và dù có sự phân định rõ rệt giữa giáo quyền và chính quyền, người ta cũng thấy vai trò quan trọng của hàm số tôn giáo trong bài toán chính trị. Auguste Comte khi chủ trương thuyết ba thời kỳ, nói rằng thời đại chúng ta là thời đại của khoa học thực nghiệm, và mọi xây dựng đều phải thực hiện trên khoa học thực nghiệm. Theo ông thời kỳ trước thế kỷ X sáu là thời kỳ tôn giáo, từ thế kỷ mười sáu đến đầu thế kỷ X chín là thời kỳ của triết học, từ thế kỷ X chín trở về là thời kỳ của khoa học.

Sự phân định ranh giới của ba thời kỳ đó không được đích xác và không cho ta thấy rõ vai trò của tôn giáo và của triết học trong hiện đại. Thực ra, ba thứ tôn giáo, triết học và khoa học đều có nguồn gốc riêng và lịch trình diễn biến riêng, và cả ba đều là những biểu hiện cụ thể cho tư tưởng nhân loại. Vào thời cổ đại, tuy không khí tôn giáo bao trùm mọi sinh hoạt nhưng tư tưởng tôn giáo vẫn còn non nớt, và ta không thể không công nhận sự hiện diện của một ít suy luận triết học tuy cũng rất ấu trĩ. Khoa học lúc này cũng đã được khởi đầu trong những hình thái đơn giản nhất. Điều này có thể nhận thức qua ý hướng tìm kiếm và sáng tạo những khí cụ và vật dụng cần cho sinh hoạt hằng ngày. Lợi dụng sức nước để giã gạo, phát sinh ra lửa để nấu nướng… đó là những thành tích ban đầu của khoa học. Không có thời kỳ ấu trĩ thô vụng thì làm gì có thời kỳ trưởng thành tinh xảo?

Từ thế kỷ X chín đến nay, khoa học tiến triển một cách vô cùng nhanh chóng, và chịu ảnh hưởng ấy, triết học cũng rất có tiến bộ. Triết học Tây phương cận đại từ độ ấy đã bắt đầu được kiến thiết trên những khám phá khoa học nên đã lìa bỏ được rất nhiều giả thuyết và huyền đàm vu vơ, thiếu căn cứ. Một mặt, triết học xông vào lĩnh vực tôn giáo để chỉ rõ những gì chỉ là thần thoại và huyển tượng, một mặt khác phóng những chân trời mới cho khoa học hướng tới. Cả ba giòng tôn giáo, triết học và khoa học vì thế đều được thúc đẩy tiến bộ. Nhận thức về tôn giáo, dù muốn công nhận hay không, cũng đã biến đổi một cách đáng kể. Triết học và khoa học không phụ thuộc vào thần học như ở thời Trung cổ nữa mà đã tách riêng ra một cách hoàn toàn độc lập và trở về chỉnh lý cho nhận thức tôn giáo.

Những tư tưởng gia quá khích đã cho rằng thời đại mới chỉ cần đến khoa học. Đây là một điều nhầm lẫn bởi vì giữa khoa học và triết học có những liên hệ mật thiết, nhất là những liên hệ có tính cách khai thông và gợi ý về phần triết học. Về phần tôn giáo, lịch sử đã chứng tỏ rằng tôn giáo là nền tảng, là yếu tố quan trọng của đoàn kết xã hội. Tín ngưỡng tính cũng là xã hội tính của con người. Nói rằng thời đại khoa học không cần đến tôn giáo hoặc nói rằng phải hủy bỏ tôn giáo tức là không nhận thức được sự thực ấy, tức là tin tưởng quá ở giá trị của thuyết tam thời kỳ của nhà triết học Pháp.

Cứ nhìn vào thực trạng xã hội thế giới ngày nay thì biết. Tôn giáo đang đóng vai trò tạo nên xã hội tính của các khối. Đại khái khối Âu Châu có Công giáo, khối Cận Đông có Hồi giáo, khối Trung Đông có Ấn giáo. Và rốt cuộc ta thấy xã hội không thể không có những hệ thống tín ngưỡng được xem như yếu tố tạo thành xã hội tính. Yếu tố tôn giáo trong thế thăng bằng của chính trị là một cái gì không thể phủ nhận được.

Nhưng có hai câu hỏi được đặt ra. Câu hỏi thứ nhất liên hệ đến sự phân biệt ranh giới giữa tôn giáo và chính trị, câu hỏi thứ hai liên hệ đến bản chất của tôn giáo và ảnh hưởng tôn giáo trong sinh hoạt xã hội và trong những xung đột chủ nghĩa.

Ta hãy đặt câu hỏi thứ nhất. Nếu tôn giáo là chất liệu của xã hội tính, và nếu chính trị là quyền bính sử dụng xã hội tính ấy để thực hiện những điều mơ ước, thì đâu là ranh giới và quyền hạn giữa giáo quyền và chính quyền? Giáo quyền và chính quyền có phải là hai thứ quyền hạn hoàn toàn không lệ thuộc gì nhau không? Theo chúng tôi tưởng, mọi sự giản lược hóa vấn đề đều không đem đến cho ta một cái nhìn xác thực. Mọi hiện tượng trong xã hội đều có liên hệ với nhau một cách rất mật thiết và không bao giờ có những ranh giới tuyệt đối giữa hiện tượng này với hiện tượng kia, đúng như nguyên lý vô ngã đã cho ta thấy. Vì vậy trong khi xét vấn đề chúng ta phải cố gắng tránh lề lối cắt xén, bằng trí óc ta, cái thực tại phiền tạp kia ra thành nhiều miếng nhỏ rời rạc.

Đối tượng của tôn giáo là con người mà đối tư?ng của chính trị cũng là con người, và dù con người tinh thần hay con người vật chất cũng là con người, cũng là những khía cạnh liên hệ nhau của con người. Như thế làm sao tôn giáo và chính trị không có những tương quan cho được. Điều ta có thể nói là trong khi chính trị dùng những quyền hành quân sự thì tôn giáo dùng những quyền hành tinh thần và tình cảm; trong khi chính trị dùng những phương tiện luật pháp thì tôn giáo dùng những phương tiện đạo đức.

Một bên là pháp trị và một bên là đức trị. Nếu có sự áp dụng đức trị thêm vào trong mặt pháp trị tức là có sự sử dụng tinh thần tôn giáo đạo đức trong phạm vi chính trị. Trong phạm vi tôn giáo nhất là trong những tôn giáo mà giáo quyền quyết định mọi sự áp dụng pháp trị. Và như thế phương pháp của chính trị được áp dụng ít nhiều trong phạm vi tôn giáo. Đáng lý ra, theo ước muốn của con người, tôn giáo chỉ được thuần túy dựng trên đức trị. Ta cũng nên hiểu tôn giáo như những lực lượng văn hóa mà trung tâm là một ý thức hệ. Tôn giáo cũng như chính trị, nhắm đến đối tượng con người và đến sự thực hiện thế giới lý tưởng của con người, hoặc ngay trên Trái Đất này, hoặc ở một thiên đường ngoài Trái Đất này.

Nhưng dù trên Trái Đất này hay ở một thiên đường ngoài Trái Đất này thì cũng vẫn là những con người này, những con người mà ta gặp gỡ và cùng chung sống hôm nay. Cũng những con người ấy chịu ảnh hưởng, chịu sự hướng dẫn, chịu sự chi phối và chịu những mệnh lệnh của tôn giáo và của chính trị – dù là do chính con người tạo ra. Và như thế phải có mâu thuẫn, bởi vì có hơn một đường lối, hơn một mênh lệnh. Từ xưa đến nay đã có những chống báng và những hợp tác giữa các nhà văn hóa (ta tạm gói chữ tôn giáo trong chữ văn hóa) và các nhà chính trị. Các nhà chính trị luôn luôn đi tìm những nhà văn hóa để lợi dụng (xin nói trắng – với lại chữ lợi dụng không có nghĩa gì xấu), bởi vì chính trị nào cũng phải có quần chúng mà tư trào văn hóa nào lôi kéo được quần chúng thì có thể bảo đảm cho sự đứng vững của một thế chính trị.

Ta hãy lấy ít ví dụ ở xã hội nông nghiệp Trung Hoa ngày xưa. Một nền văn hóa chủ trương đề cao chữ Trung cố nhiên được các ông vua ưa thích. Chữ Trung đã mang ý nghĩa trung với một ông vua, trung với một triều đại, một dòng họ. Và lệnh vua phải được triệt để tuân theo, dù đó là lệnh ban cho mình cái chết: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung. Giáo lý Trung quân khi đã được nhiều người theo và sùng kính như một nguyên lý tôn giáo (đó là công trình của nhà văn hóa cũng như nhà tôn giáo) có thể bồi đắp và giữ gìn một cách rất hữu hiệu cho sự tồn tại của một ông vua, một chính quyền. Thường thường một ông vua, vì muốn tỏ cho người sĩ phu biết là mình phục thiện, mới miễn cưỡng bằng lòng nguyên tắc: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, kỳ thực rất muốn người ta xem mình như là cha mẹ. Không những thế, còn bằng lòng tự nhận mình là con trời nữa, như sự sắp xếp của nhà văn hóa và tôn giáo. Thờ vua trở thành một tôn giáo, bởi vì vua không những là nhà chính trị mà còn là thiên tử, người thuận thiên hành đạo. Và giáo quyền hợp lực với quân quyền. Cả hai bên đều có lợi, một bên là chính quyền được vững chãi, một bên là giáo quyền và giáo lý được nâng đỡ, tôn giáo, phát triển ảnh hưởng và thế lực trong quần chúng. Nếu nhà chính trị đi tìm nhà văn hóa, thì nhà văn hóa cũng đi tìm nhà chính trị.

Tuy nhiên ta phải ghi nhận điều này: thường thường nhà chính trị, vì tin tưởng quá nhiều ở khả năng của quyền bính pháp trị, nên có thể tìm đến với bất cứ một tư trào văn hóa nào tạo được xã hội tính mạnh nhất trong xã hội mình, trong khi đó nhà văn hóa (tôi nói nhà văn hóa chân chính) thường chỉ nhìn vào khả năng thực hiện đường lối văn hóa mình nơi nhà chính trị để mà chọn mặt gửi vàng. Lý do là các nhà văn hóa biết rằng nếu có nhà chính trị giỏi chịu đi theo họ thì họ sẽ có thêm một phương tiện sắc bén nữa để thực hiện nền văn hóa ấy, ngoài những phương tiện văn hóa của chính họ. Những nhà văn mà cứ xu phụ vào bất cứ một chính quyền nào thì đều là những nhà văn hóa nô dịch không có lý tưởng.

Những nhà văn hóa có lý tưởng thì luôn luôn hướng đến một tương lai đẹp hơn hiện tại, và có ý dùng lực lượng văn hóa của họ để buộc nhà chính trị thực hiện ước muốn chân chính và tiến bộ của lý tưởng kia. Văn hóa nào cũng muốn là văn hóa dân tộc, tôn giáo nào cũng muốn là quốc giáo. Quốc giáo không phải như một chức vị, mà là một hiện thực, để mà thực hiện lý tưởng. Trong xã hội ta ít ai chịu đựng được ý niệm một quốc giáo, nhưng mà sự thực của tâm trạng các nhà tôn giáo thì chưa chắc.

Cố nhiên là nhà chính trị sợ nhà văn hóa trong trường hợp nhà văn hóa không ủng hộ cho mình và còn muốn cho mình làm những điều mà nếu mình làm thì mình phải đổ. (Như trong trường hợp nhà chính trị độc tài: độc tài là phương tiện để đứng vững lâu thêm). Và vì vậy có hiện tượng đàn áp những tư trào văn hóa nào có cơ hội kéo được đa số quần chúng theo và đang là một sự đe dọa cho sự tồn tại của chính quyền. Chỉ có những nhà văn hóa nô dịch mới được bảo đảm trong một chính thể độc tài, còn những nhà văn hóa chống đối bao giờ cũng bị đe dọa. Khi một tư trào văn hóa lớn mạnh, nhà chính trị sẽ không dám đe dọa nữa và bắt buộc phải vuốt ve, hoặc thoa dịu, hoặc nâng chiều. Sự nâng chiều đứng đắn nhất là thực hiện sốt sắng những lý tưởng văn hóa kia dù sự thực hiện đó đòi hỏi can đảm, nhượng bộ và hy sinh.

Trong trường hợp một tư trào văn hóa nào đó mà được hướng dẫn bởi những động cơ quyền thế và danh lợi, và nếu tư trào đó lớn mạnh thì đó là một điều đại bất hạnh cho xã hội. Chính quyền sẽ phải xu phụ theo đó, nếu muốn đứng vững; và xu phụ theo tức là phụng sự cho bóng tối và cho đau khổ của xã hội. Nhà văn hóa mà đi lầm đường thì còn tàn hại hơn nhà chính trị nhiều. Trong khi nhà chính trị đi tìm hậu thuẫn quần chúng nơi nhà văn hóa thì nhà văn hóa, ngoài công việc phát huy hướng dẫn và thực hiện bằng những phương tiện của mình, cũng để mắt tới những nhà chính trị mà họ nhắm có khả năng thực hiện văn hóa họ.

Việc đi chu du của Khổng Tử qua các nước chẳng hạn là để tìm những chính quyền có thiện chí và khả năng thực hiện đường lối văn hóa Khổng Tử. Ít có ông vua nào chịu là vì văn hóa đó chưa phải là một thực thể mà mới là một dự án. Nếu đức Khổng Tử trước tiên chịu khó mở trường dạy học, chịu khó phổ biến đường lối, làm cho ý thức hệ mình trở thành xã hội tính của một xứ sở thì không cần chu du tìm kiếm cũng sẽ có nhà chính trị tìm đến. Nhưng nhà làm văn hóa không hẳn là để cho nhà chính trị tìm đến: làm văn hóa là cố thể hiện một ý thức hệ trong sự sống của con người, bằng những phương tiện sẵn có trong phạm vi văn hóa. Và chừng đó cũng đã là đáng kể lắm rồi.

Khi văn hóa đã trở thành sự soi sáng cho ước vọng và ý chí của quần chúng thì tự khắc bằng cách này hay cách khác nó được thực hiện. Chất liệu văn hóa của một lực lượng xã hội bao giờ cũng có ảnh hưởng trên sinh hoạt mọi mặt của xã hội ấy. Nhà chính trị bao giờ cũng cần đến nhà văn hóa và do đó không thể nào có sự phân biệt rõ rệt về phương diện nội dung. Chính trị muốn văn hóa phục vụ mình và văn hóa cũng muốn chính trị phục vụ mình: đó là một sự thực lịch sử. Tôn giáo, dưới con mắt của nhà xã hội học, nằm gọn trong phạm vi văn hóa, và vì vậy cũng nằm trong sự thực đó. Nhà thần học có thể không đồng ý về điểm này.

Nếu có ranh giới giữa văn hóa và chính trị thì ranh giới đó chính là sự phân biệt những khí cụ, những phương tiện. Nhà chính trị có những khí cụ và phương tiện khác nhà văn hóa; sự lạm dụng khí cụ của nhau khiến cho hai bên dính vào nhau và văn hóa sẽ mất đặc tính văn hóa.

Rõ ràng nhất là trong trường hợp tôn giáo: tôn giáo xen vào chính trị có nghĩa là tôn giáo muốn dùng đến những phương tiện chính trị hoặc để thực hiện lý tưởng mình hoặc để phát triển uy quyền và thế lực mình trong xã hội. Có thể có tôn giáo quan niệm rằng điều đó là điều tự nhiên, nhưng cũng có những tôn giáo khác không thể chấp nhận như vậy. Ví dụ trong trường hợp đạo Phật. Đạo Phật có thể nhận sự bảo trợ của chính quyền trong trường hợp nhà chính trị thấy lý tưởng đạo Phật thích hợp với đường lối họ (như trường hợp vua Asoka ở Ấn và các vua triều Lý Việt Nam) nhưng đạo Phật không bao giờ muốn nắm lấy quyền bính hoặc có ý thao túng chính quyền. Tuy thế có những tôn giáo tự nhận quyền hành chỉ đạo tinh thần cho cả chính trị và như thế, ngoài phương diện đức trị, những tôn giáo ấy, qua trung gian của chính quyền, dùng cả phương tiện pháp trị nữa. Người lãnh đạo tôn giáo trở thành vua của các ông vua, tổng thống của các ông tổng thống. Ở những xã hội chỉ có một tôn giáo đáng kể thì điều này có thể thực hiện, nhưng ở những xã hội có nhiều tôn giáo, điều này là một điều nguy hiểm.

Tôn giáo đã đành phải có những đóng góp trong xã hội – đóng góp những gì rất quan trọng như là tạo nên xã hội tính chẳng hạn – nhưng chỉ có thể đóng góp với tư cách tôn giáo. Nếu không, tôn giáo sẽ không còn là tôn giáo nữa. Nói rằng hàm số tôn giáo rất quan trọng trong bài toán chính trị không có nghĩa là nói rằng tôn giáo có thể đóng vai trò chính trị. Nếu tôn giáo không còn là hàm số tôn giáo nữa mà lại là một thứ hàm số khác.

Bây giờ ta hãy thử xét đến câu nói thứ hai, câu hỏi có liên hệ đến vấn đề bản chất và ảnh hưởng của tôn giáo trong mọi sinh hoạt xã hội, trong đó có sinh hoạt chính trị. Cố nhiên ai cũng thấy rằng mọi sinh hoạt xã hội chịu ảnh hưởng ít nhiều của tôn giáo, nghĩa là chịu ảnh hưởng cái chất liệu đã tạo nên xã hội tính của con người trong xã hội đó. Tuy nhiên không phải các tôn giáo đều có công như nhau. Xã hội chỉ có thể tiến bộ nếu nhận thức về tôn giáo có tiến bộ. Những nhận thức cố chấp về tôn giáo đã kềm hãm sự tiến bộ của nhân loại nhiều lắm, lịch sử văn hóa cho ta thấy điều đó. Nhưng tiến bộ của xã hội, trong đó có tiến bộ khoa học, giúp cho sự tiến bộ về nhận thức tôn giáo và ngược lại những tiến bộ về nhận thức tôn giáo cũng làm điều kiện cho xã hội tiến bộ. Vậy nên cố chấp vào những giáo điều đã trở thành ngây thơ trước sự tiến bộ của khoa học tức là cản trở bước đi của khoa học và cũng tức là quá tin ở sự lý giải của mình đối với nội dung của tôn giáo mình đang theo.

Tuy nhiên thái độ không cởi mở của người tín đồ không hẳn là kết quả của một lề lối nhận thức đã đóng khung người tín đồ ấy lại, mà còn là kết quả của cái bản chất tôn giáo mà giáo điều căn bản được xây dựng trên những nhận thức có tính cách thần thoại và không thể đứng vững hoài được trước sự tiến bộ của nhận thức khoa học.

Đành rằng tín ngưỡng tính trong con người là một cái gì không thể tiêu diệt được và đành rằng đức tin tôn giáo quả thực cần thiết cho sự kết hợp của các lực lượng xã hội, nhưng có những tôn giáo (và có những thái độ nhận thức về tôn giáo) có thể ngăn cản và làm chậm lại sự tiến hóa của tư tưởng, khoa học, xã hội, và gây nên tâm trạng cuồng tín rất nguy hại cho nhân loại, trong khi đó có những tôn giáo có bản chất thích hợp với sự phát triển của tinh thần tự do, dân chủ và khuyến khích mọi tiến bộ của nhân loại về phương diện sinh hoạt xã hội cũng như về phương diện tâm linh, tình cảm.

Tinh thần vô tư của nhà khoa học và tâm trạng thao thức đi tìm chân lý một cách khách quan của nhà triết học (chứ không phải là nhà thần học) cần phải được chiếu rọi vào tôn giáo để giúp cho nhận thức về tôn giáo được sáng tỏ và tiến bộ. Một khi con người có được nhận thức tỉnh táo về tôn giáo (đức tin nơi tôn giáo không cần và không nên là một đức tin say mê vô điều kiện) thì con người sẽ có những khám phá mới lạ về tôn giáo và tránh được cho nhau những va chạm không cần thiết – những va chạm bao giờ cũng gây oán thù chết chóc và khổ đau cho nhân loại.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 01 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 02 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 03 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 04 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 05 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 06 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 07 tại đây.

Đọc Đạo Phật đi vào cuộc đời, chương 08 tại đây.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 06 626 – thu vien, van hoc, van hoc viet nam, doan van, ton giao, phat giao, thien van, thuc hanh ton giao, thich nhat hanh, dao phat di vao cuoc doi, dao phat di vao cuoc doi chuong 06, dao phat di vao cuoc doi 06.
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 06.

Chuyên mục dao-phat-di-vao-cuoc-doi

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 06

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 06

Các nhà chính trị luôn luôn đi tìm những nhà văn hóa để lợi dụng xin nói trắng với lại chữ lợi dụng không có nghĩa gì xấu, bởi vì chính trị nào cũng phải c.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 06
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 05

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 05

Viện Hóa Đạo và toàn thể các giới Phật tử xuất gia và tại gia nằm trong hệ thống tổ chức của Giáo hội. Nói tới Giáo Hội cũng tức là nói đến hiến chế giáo c.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 05
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 08

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 08

Nhu cầu tín ngưỡng tầm thường của xã hội bình dân khiến cho xã hội bình dân chỉ tiếp nhận được một phần rất ít giáo lý của đạo Phật, và vì vậy đạo Phật bìn.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 08
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 07

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 07

Khi đã kiểm nhận kỹ lưỡng rồi, cá nhân ấy mới bên bước vào con đường thực nghiệm với thái độ cương quyết nhưng hết sức tỉnh táo, khách quan. Nếu sự thực ng.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 07
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 03

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 03

Mạt pháp có nghĩa là giáo pháp đã đến lúc cùng mạt. Ý thức rằng giáo pháp đã đến thời cùng mạt, ai mà chẳng buồn, ai mà chẳng nản Nhưng chúng ta không đau.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 03
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 04

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 04

Trước hết nếu ta để thì giờ bàn về Niết Bàn, bàn về Thiên Đường, bàn về sự sống bên kia cái chết, chúng ta sẽ còn bị ngăn cách nhau mãi mãi bằng những giả.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 04
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Lời nói đầu

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Lời nói đầu

Vô trước có nghĩa là không bị dính vào. Cố nhiên con người giác ngộ sẽ không những không bị dính vào tham vọng, quyền hành và lợi danh mà còn không bị dính.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Lời nói đầu
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 01

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 01

Phật không phải là một bó luân lý và giáo điều cứng cỏi.Còn chữ tiếp hiện có nghĩa là tiếp nhận và thực hiện. Tiếp nhận nguồn sinh lực đạo pháp do những nh.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 01
Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 02

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 02

Phật pháp, là pháp môn, là prajnapti. Thực ra, không khế cơ thì tức đã không khế ly鍊 rồi bởi vì lý chỉ có thể nhận thức qua cơ và không khế lý thì cũng khô.

Đạo Phật đi vào cuộc đời | Chương 02

Chuyên mục van-hoc-viet-nam

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Khoa Điềm từng làm báo Vùng lên của sinh viên Huế cùng với Trần Vàng Sao. Ban đầu, việc viết thơ của ông chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của tòa soạn, cần có một.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Trung Thu. Việc tuân thủ quy tắc này không chỉ thể hiện sự tôn trọng mà còn đảm bảo tính thống nhất và chuyên nghiệp trong văn bản. Ví dụ minh họaĐể minh h.

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao
Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Sang và tổng Cao Đà quê ông, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất quê hương.Cuộc đời của nhà văn Nam Cao là hành trình vất vả của một con người tài năng.

Tiểu sử nhà văn Nam Cao
Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Hội có trụ sở chính đặt tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, một địa chỉ thuận tiện cho việc liên hệ và tổ chức các hoạt động ở miền Bắc.

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Có được một tác phẩm sống mãi cùng năm tháng cũng đã là quý giá.Trong bối cảnh văn học Việt Nam sau 1945, Nguyễn Thành Long được xếp vào nhóm những nhà văn.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tuân là tấm gương về sự kết hợp giữa tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm xã hội. Đối với Nguyễn Tuân, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật tr.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân
Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Lâm Thị Mỹ Dạ. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự ghi nhận của cộng đồng văn học và nhà nước đối với những đóng góp của ông.Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Quỳnh vượt xa ranh giới của một nhà thơ thông thường, bà đã trở thành một hiện tượng văn hóa cultural phenomenon, một biểu tượng của tình yêu và phẩm chất.

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh
Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Bắc, Tây Bắc.Năm 1950, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, từng làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Những trải nghiệm trong thời kỳ kháng chiến khôn.

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài
Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Lan Viên là một trong những nhà thơ được độc giả yêu mến nhất, thơ ông được truyền tụng rộng rãi qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ vì giá trị nghệ thuật.

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Chuyên mục ton-giao

Triết học chỉ là một mớ vô nghĩa?

Triết học chỉ là một mớ vô nghĩa?

Triết học, cùng toán học và logic, là nền tảng trí tuệ cổ xưa. Tìm hiểu tại sao triết học vẫn quan trọng và không phải là mớ vô nghĩa như nhiều người nghĩ.

Triết học chỉ là một mớ vô nghĩa?
Chủ nghĩa hư vô (nihilism) là gì?

Chủ nghĩa hư vô (nihilism) là gì?

Chủ nghĩa hư vô, nổi tiếng qua triết gia Friedrich Nietzsche, đặt câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống. Tìm hiểu tư tưởng này và tác động của nó đến thế giới hiện đại.

Chủ nghĩa hư vô (nihilism) là gì?
Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn

Freud và Đức Phật đưa ra cách đối phó ham muốn. Tìm hiểu tư tưởng của họ về dục vọng và cách vượt qua để sống cân bằng trong xã hội hiện đại.

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn
Có cuộc sống sau khi chết không?

Có cuộc sống sau khi chết không?

Bạn sẽ chết. Cho dù bạn có quyền lực đến đâu, cầu nguyện chăm chỉ thế nào, hay công nghệ nano trở nên tiên tiến ra sao, bạn vẫn sẽ chết.

Có cuộc sống sau khi chết không?
Chơi đùa với tôn giáo

Chơi đùa với tôn giáo

Với nhiều người, những ký ức thời thơ ấu về tôn giáo gắn liền với những bà cụ hay yêu cầu giữ im lặng và những linh mục nghiêm khắc.

Chơi đùa với tôn giáo
An nhiên trong cơn mưa

An nhiên trong cơn mưa

Sự ồn ào ấy ấy cũng như tiếng mưa ập xuống, đều được gọi là tiếng ồn trắng. Tiếng ồn trắng là một khái niệm để chỉ tập hợp của các loại tiếng ồn mà con ng.

An nhiên trong cơn mưa
Trải nghiệm tâm linh số trong metaverse

Trải nghiệm tâm linh số trong metaverse

Tâm linh trực tuyến trong metaverse mang đến thiền, hành hương ảo. Khám phá cách công nghệ định hình trải nghiệm tâm linh số.

Trải nghiệm tâm linh số trong metaverse
Ý nghĩa cuộc sống qua góc nhìn vũ trụ học

Ý nghĩa cuộc sống qua góc nhìn vũ trụ học

Giáo sư vũ trụ học khám phá ý nghĩa cuộc sống qua lý thuyết tương đối hẹp của Einstein, từ các phương trình toán học đến bất biến không – thời gian.

Ý nghĩa cuộc sống qua góc nhìn vũ trụ học
Tư duy xanh để sống an lành

Tư duy xanh để sống an lành

Điều này có thể khó khăn để thực hiện, nhưng sẽ không khó nếu chúng ta có một tư duy xanh để nương theo và hành động. Để biết cái gì là đúng, cái gì là sa.

Tư duy xanh để sống an lành
Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Với những người làm nhân sự, cuối tuần là thời điểm tái tạo và phục hồi sức lao động. Nhưng định nghĩa là một chuyện, còn tái tạo và phục hồi như thế nào.

Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ