Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

Kiếm sắc

Ngủ thì thôi, tỉnh lại nhớấy là trời buộcCô quạnh vì nàngTa đi săn, đi câuVẻ đẹp hoàn hảoVẻ đẹp thiên kimBao giờ bốc mộNhỏ cho một giọt nước mắtKìa trăm nă.

15 phút đọc.

0 lượt xem.

Nguyễn Huy Thiệp (1950 – 2021) là nhà văn đương đại Việt Nam nổi tiếng với các thể loại truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, phê bình văn học.

Ông được coi là một trong những nhà văn quan trọng nhất của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, bốn tiểu thuyết và nhiều bút ký và phê bình văn học. Xuất hiện trên văn đàn từ năm 1986, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt trong nền văn học Việt Nam đương đại với phong cách sáng tác độc đáo và những tác phẩm gây tranh luận sôi nổi.

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

(Nguyễn Du).

Trong số người gần gũi với Thế tổ Nguyễn Phúc Ánh những năm mưu phục lại cơ đồ nhà Nguyễn có một hào kiệt mà không sử sách nào nhắc đến. Người đó là Ðặng Phú Lân.

Lân quê ở Hưng Hóa, cha là Ðặng Phú Bình, trước là thuộc tướng của Trịnh Bồng. Bình tính ngang tàng, võ công thâm hậu, thấy chúa Trịnh hèn mà cách xử thế keo kiệt, không xứng đáng với bậc vương giả nên bỏ Trịnh Bồng vào Ðàng Trong. Khi Tây Sơn nổi lên, Bình theo Nguyễn Nhạc, Nguyễn Nhạc không tin Bình, cho Bình là dân Bắc Hà trí xảo, không trung tín. Nhạc chỉ cho Bình làm một chức quan võ nhỏ ở vùng sơn cước mãi tây Bình Thuận. Bình bất đắc chí, suốt ngày uống rượu, nhiều khi say quá, cứ trông về phía trời Bắc mà khóc hu hu. Lân can thế nào cũng không được. Về sau Bình ngã nước, râu tóc rụng hết, gầy tọp đi, da vàng như nghệ, chỉ nằm chờ chết. Bình có một thanh kiếm gia truyền, sắc như nước, sống kiếm đổ chì, sức chém khủng khiếp. Trước khi chết, Bình trao thanh kiếm lại cho Lân, bảo rằng: Con ơi, nước đang có loạn. Tây Sơn bây giờ đang lên như thế chẻ tre. Nhưng ta thấy sức chơi của bọn người này bất quá chỉ như trọc phú nhà giàu, gÁnh vác giang sơn sao được? Ta đồ rằng mệnh Tây Sơn có hạn. Hiện Gia Ðịnh có Nguyễn Phúc Ánh là nòi vương giả, con gắng vào đấy tìm xem. Lân khóc, mắt chảy có máu. Bình giãy mấy cái, mồ hôi toát đầm đìa, người cứ lạnh dần rồi chết. Lân lấy kiếm đào huyệt chôn cha; tìm đường vào Gia Ðịnh theo Nguyễn Phúc Ánh. Lúc bấy giờ Lân mới hai mươi tám tuổi.

Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Ðịnh tìm cách lật đổ Tây Sơn, khi này thế đã mạnh. Ánh là người đa mưu túc kế, tính kiên trì, không tin ai, dùng người lấy chữ hiệp, chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì. Thỉnh thoảng, Ánh vào trong đất Thuận Quảng, xuất quỷ nhập thần. Người Ðàng Trong sợ Ánh hơn là thích Ánh. Ánh đi đến đâu nghe nói cũng có mây đen cuồn cuộn bay đằng trước, dân cư thấy có mưa là biết Ánh vừa đi qua.

Lân gặp Ánh. Ánh thấy Lân khôi ngô, ăn nói khoan hòa mà thủ đoạn táo bạo thì thích lắm, cho ở luôn bên mình. Một lần thuyền Ánh qua cửa Tiền Giang, có bốn người đi theo, trong đó có Lân. Bấy giờ có con cá sấu rất to cứ bơi theo, đuổi thế nào cũng không được. Mọi người lo sợ, thấy phải có người nhảy xuống làm mồi cho cá sấu thì mới thoát.

Ánh hỏi: Ai vì nước Việt mà chết?

Ba người kia tình nguyện chết, chỉ có Lân ngồi im. Ánh trừng mắt hỏi Lân:

Trượng phu quý mạng sống thế à?

Lân chắp tay: Chúa công đừng giận. Nước Việt thì không ai hại được. Còn thoát hàm cá sấu, cần gì phí một mạng người!

Nói rồi nhặt hòn đá ở mạn thuyền ném con vịt giời bay qua. Vịt giời rơi xuống nước, cá sấu thấy vậy vội bỏ thuyền lao đến chỗ vịt giời. Ánh cười ha hả bảo rằng: Thế này thì nghiệp ta thế nào Trời cũng cho thành.

Ánh đi đâu cũng cho Lân đi theo, cũng nhiều khi Ánh xem ý Lân để liệu xử thế với người, lần nào cũng trúng. Có lần, lúc này thế Ánh như diều gặp gió, trước Tết Nguyên đán, các tướng lĩnh, các nhà hào phú quanh vùng, cả dân chúng Gia Ðịnh nữa cũng mang lễ vật đến mừng, Ánh cho Lân ra nhận lễ vật. Lân ra nhận, cho ráo vào cả một kho. Khách đến chúc mừng Ánh, chỉ đi chân tay không mà vào. Bọn Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Võ TÁnh thấy lễ vật của mình cũng bị xếp cùng với lễ vật những người khác thì căm tức. Bọn này phàn nàn với Ánh, ý trách Ánh để tả hữu coi thường mình. Ánh cười bảo rằng: Lân là người có văn, có võ, lại cương trực, trung thành với chủ, cứ để hắn khu xử. Hắn có cách khu xử của hắn. Những người gần ta không phải kẻ tầm thường đâu.

Sáng mồng một, lập đàn tế thần, Ánh cho Lân đứng ra chia lộc thÁnh. Lân chia phần đều ai cũng như ai, mọi người rất hớn hở. Sau việc này, Ánh hỏi Lân, Lân đáp: Nghiệp chúa công chưa thành, thế mà đã có kẻ dâng lễ vật nhiều, dâng lễ vật ít. Biết lễ vật của từng người, chúa công sau này dùng họ khó. Ánh bảo: Phải! Lân lại nói: Việc chia phần đều nhau là để ai cũng thấy mình phải cố gắng. Ánh bảo: Cũng phải. Ngồi một lúc Ánh nói: Chỉ e ngươi căn cơ quá chăng? Lân đáp: Ðầy tớ không căn cơ có hại cho chủ. Ánh bảo: Ngươi là dân Bắc Hà; Ngươi không hiểu dân Ðàng Trong như ta được. Ngươi tưởng làm thế là chu toàn, nhưng bậc vương giả thích sự tiện lợi hơn cả. Lân bảo: Chúa công nói phải, căn cơ chỉ hợp với bần tiện, nhưng đất của Chúa công bây giờ nhiều hơn đất của Tây Sơn hay của Tây Sơn nhiều hơn? Ánh cau mày đáp: Ta chỉ vỏn vẹn có ba thước đất chôn thây thôi. Lân bảo: Không phải thế. Chúa công được lòng trời đất, chỉ cần Chúa công thành tâm. Ánh ngồi im, lát sau lại hỏi: Nhạc không nói làm gì. Lữ không nói làm gì. Huệ có cách gì mà giỏi giang thế? Lân đáp: Huệ giỏi dùng người tài nhưng không giỏi dùng người thường. Chúa công khác Huệ. Ánh ngồi im không nói năng gì.

Khi Nguyễn Huệ chết, con trai là Nguyễn Quang Toản lên ngôi, Tây Sơn năm bè bảy mối. Ánh mừng lắm sai mở tiệc mừng. Lân đứng ra can: Chúa công đừng làm thế, dân chúng nhìn vào không cho ta là người đại lượng. Ánh bảo: Huệ coi ta là quốc thù, hịch truyền khắp nơi, lời lẽ bẩn thỉu lắm. Ta với Huệ không đội trời chung. Nó chết ta cười cũng không được ư? Lân đáp: Huệ không có tội gì, chỉ là một người tài, bị trời hành, cũng như Chúa công vậy. Nhưng lực lượng của Huệ không được hưởng phúc lâu dài, thế là Huệ dăm bảy đường thiệt. Ta lấy lộc của kẻ được hưởng phúc trời mà cư xử, trời thấy ta phải, người cũng thấy ta phải. Ánh nghe Lân nhưng nghiến răng nói: Khi nào ta thành nghiệp lớn, ta phanh thây nó, ta chôn ba họ nó. Lân bảo: Chẳng lâu đâu, Chúa công cứ nhịn cười, lúc ấy cười một thể. Quả nhiên sau này khi Ánh chiếm Thăng Long, thống nhất giang sơn, Ánh trả thù Tây Sơn rất thảm khốc.

Khi Ánh chiếm Phú Xuân, cướp được một ca nữ xinh đẹp lạ lùng, tên là Ngô Thị Vinh Hoa, vừa tròn mười tám tuổi. Vinh Hoa hát hay, đàn giỏi, điệu bộ rất duyên dáng. Một đêm, Ánh hứng khởi, sai Lân đưa Vinh Hoa vào bày tiệc, ngồi nghe hát. Lân bảo: Hát bài Triều Thiên Tử. Vinh Hoa ôm đàn hát:

Kìa xanh xanh

Mấy nụ non

Mấy lá non

Nhờ mưa xuân mang sữa cho

Nhờ gió xuân mang khí thổ cho

Nhờ đất mang lương thực cho

Chẳng chịu cho ai hái

Càng lớn, nhan sắc càng mỹ miều

Càng lớn, phẩm hạnh càng thanh sạch

Càng lớn, càng cả thẹn

Thơ nào tả được vẻ đẹp này

Bút nào vẽ được ý tứ này

Ai tương tư mà chau mày

Ngủ thì thôi, tỉnh lại nhớ

ấy là trời cho

Vẻ đẹp hoàn hảo

Vẻ đẹp thiên kim.

Ánh vỗ tay reo: Hát hay quá. Lân lại bảo:_ Hát bài Tình Sông Núi._ Vinh Hoa ôm đàn hát:

Kìa núi cao cao

Kìa sông xanh xanh

Núi do đâu mà ra

Sông do đâu mà ra

Tráng sĩ xa nhà

Lặn lội trên đường

Nơi cố hương

Mẹ già bạc đầu

Gái quý đêm nằm trằn trọc

Lấy gì trả nghĩa tình

Uống chén rượu sầu

Mời núi cao một chén

Lạy thiên tử ba lạy

Chẳng quên tình sông núi

Chỉ thương tình mẹ già với người đẹp phương xa.

Ánh cau mày: Hát hay nhưng buồn quá. Vinh Hoa quì xuống lạy: Tiện thiếp làm rầu lòng người trời. Lân đỡ dậy, bảo rằng: Người chớ lo, Chúa công lòng rộng, những thứ tình cảm sướt mướt của bọn người thường không hợp với Chúa công đâu. Nói xong, Lân sụp xuống lạy Ánh: Ngày mai Chúa công ra trận vui thú ít thôi, cần nghỉ ngơi. Ánh thở dài đứng lên: Cũng phải ngươi ép ta, đến nay là chín năm rồi, ta còn nhớ. Từ khi ngươi cắp gươm hầu ta, ăn ngủ cũng phải tính giờ. Xưa kia ta đâu phải vậy? Lân đáp: Chúa công chịu mệnh trời, gÁnh nặng hơn người. Ánh bảo: Ta chỉ thích như người thường thôi! Tuy nói thế nhưng cũng rũ áo vào trướng. Vinh Hoa ôm đàn lui ra. Hôm sau, Ánh bảo Lân: Ta đi mà cứ văng vẳng tiếng hát ca nữ bên tai, tiếng gió thổi, tiếng gươm dao không át được. Lân bảo: Chúa công còn nhiều cơ hội nghe hát, nhưng cơ hội diệt Tây Sơn chỉ có một.

Ánh họp các tướng, bàn kế hoạch đánh ra Thăng Long. Lê Văn Duyệt tâu: Bắc Hà có nhiều danh sĩ tài giỏi. Sao cho cờ của ta đến đâu, bọn khốn nạn này mà theo thì dân chúng cũng phải theo thôi. Ánh bảo: Không được. Ta ủy mệnh trời, cần gì mua chuộc ai? Ta đến đâu, đào hố đến đấy, chôn chúng nó xuống, dân chúng không theo không được. Quan tướng ai cũng thấy phải, ngồi yên lặng cả.

Ðêm ấy Ánh thao thức không ngủ được, gọi Lân đến bảo múa kiếm cho xem. Lân cầm thanh kiếm gia truyền, múa loang loáng, nghe như có gió thổi bốn bề. Ánh nhìn toát cả mồ hôi, đoạn bảo đưa kiếm cho xem. Ánh cầm thanh kiếm hai tay, phát đứt một cây hoa dại vòng gốc như cột nhà mà chỉ bằng một nhát. Nhựa cây phun ra như máu trắng. Ánh hỏi: Kiếm của ngươi sao sắc bén vậy? Lân bảo: Ðây là kiếm thần, không rõ xuất xứ, tổ phụ truyền lại. Ánh hỏi: Sao bây giờ ta mới thấy nó? Lân bảo: Trước Chúa công chỉ thấy đầu rơi dưới kiếm, bây giờ mới nhìn rõ kiếm. Thế là sắp thanh bình thịnh trị rồi đó. Ánh cầm thanh kiếm không muốn rời tay.

Ánh hỏi: Trưa nay khi nói việc ta muốn chôn danh sĩ Bắc Hà, sao ngươi tái mặt? Lân tâu: Lân là người Bắc Hà nên tủi phận mình sợ cho mình. Ánh bảo: Ta chỉ ghét bọn chữ nghĩa thôi, còn ngươi là con nhà võ thì sợ gì. Chữ nghĩa chúng nó thối lắm, ngụy biện xảo trá tinh vi. Hành tung chúng, ta chẳng lo. Toàn lũ ốm o, như dòi chồn hèn mọn cả. Lân bảo: Ða số như thế, chôn cũng đáng. Chỉ có đôi người khá, chúa công được họ thì thêm sang cho chúa công. Ánh bảo: Ta không tin bọn nó theo ta. Chúng nó quen tỉ tê với chữ nghĩa thì sẽ coi ta là vô đạo, không có tâm thế. Rửa đầu óc chúng nó mệt lắm. Lân bảo: Thế là chúa công vẫn quen dùng người thường, ở bậc cao nhân còn gì còn chuyện vô đạo, hữu đạo? Tâm ở sự thành, đâu phải ở lòng? Chúng không chịu hiểu là lỗi ở chúng. Ðã ai hiểu việc chúa công dùng Bá Ða Lộc, dùng người ngoại quốc? Chúc công còn phải mang tiếng ba trăm năm. Ánh lo sợ nói: Phải làm sao? Lân bảo: Chẳng làm sao được, nhưng bên cạnh chúa công có vài người như Ngô Thì Nhậm thì không sao cả.

Ánh bảo: Ta muốn cho ngươi đi trước, chiêu mộ đôi ba người, thế là công to lắm. Lân sụp lạy: Ðược thế còn gì bằng, Lân cũng không thẹn mặt với nơi sinh ra mình. Ánh bảo: Ta giữ thanh kiếm này để khi ngươi quay về, có tin hay, ta có cớ mà khen thêm. Còn không được việc, ta có linh khí mà trừng phạt. Lân tái mặt nhưng đành phải chịu.

ít bữa sau, Lân cãi trang, giắt theo ít vàng bạc, tìm đường ra Bắc Hà. Lúc này Bắc Hà nhốn nháo lắm, triều đình Tây Sơn như trứng để đầu đẳng. Bọn tướng của Tây Sơn tranh giành nhau, chẳng còn biết giữ gìn tiếng tăm nữa. Lân thân cô, thế cô, lang thang đây đó, đi khắp nơi tìm người tài giỏi nhưng không thấy ai ưng ý.

Một hôm, Lân vào nghỉ ở một quán trọ ven đường, thấy có một người cốt cách hiền lành, dáng điệu bồn chồn đang ngồi uống nước chè suông. Hai người nói chuyện. Lân ngạc nhiên thấy người này trong trẻo lạ thường, tâm hồn sạch như nước ở suối ra. Lân cố mời rượu, người này chỉ uống một tí đã đỏ mặt. Con gái chủ quán rất xinh đứng ra hầu rượu. Người trẻ tuổi bảo: Khách ở nơi xa đến, mệt mỏi vì công danh không đâu, chưa biết thế nào là đường đi lối lại, cô Cầm hát một bài cho nghe đi. Lân thoáng ngạc nhiên, rồi bình tâm lại, vật nài mãi, cô con gái chủ quán bèn ôm đàn ra đưa cho người trẻ tuổi. Người trẻ tuổi gảy đàn, cốt cách rất ư thanh lịch. Cô con gái chủ quán hát:

Kìa trăm năm

Tài mệnh là gì

Chỉ thấy đớn đau

Nhờ mưa mang sữa cho

Nhờ đất mang lương thực cho

Chẳng chịu cho ai hái

Ai hái cũng phí

Nhan sắc mỹ miều cũng qua thôi

Phẩm hạnh thanh sạch cũng nhạt thôi

Càng lớn càng cả thẹn

Cố tả được vẻ đẹp này

Gắng vẽ được ý tứ này

Ai tương tư cho rầu lòng

Ngủ thì thôi, tỉnh lại nhớ

ấy là trời buộc

Cô quạnh vì nàng

Ta đi săn, đi câu

Vẻ đẹp hoàn hảo

Vẻ đẹp thiên kim

Bao giờ bốc mộ

Nhỏ cho một giọt nước mắt

Kìa trăm năm

Tài mệnh là gì

Chỉ thấy đớn đau

Lân nghe xong, thở dài trào máu ra từ ngũ khiếu. Lân kêu to: Trời hỡi trời, sao giống bài Triều Thiên Tử vậy? Cô con gái chủ quán cười cười chỉ tay vào người trẻ tuổi: Bài này không có tên, do người này làm ra, chỉ để riêng cho Cầm hát. Lân thở dài nói: Bài hát hay quá, thật Lân này chưa biết thế nào là đường đi lối lại. Nói rồi Lân cáo từ vào trong nằm nghỉ. Hôm sau Lân dậy sớm, bỏ đi không chào chủ quán, cũng không hỏi người khách trẻ tuổi với cô Cầm, con gái chủ quán.

Khi Lân đến được Thăng Long thì Nguyễn Ánh đã vào thành rồi. Quân Ánh đi như nước lụt, Lân như cÁnh bèo bị sóng cuốn trôi. Thâm tâm Lân cũng chẳng biết nên vui hay buồn, chỉ thấy trong lòng cảm động.

Lân gặp Ánh xin chịu tội vì không làm được việc. Ánh ngồi trên ngai vàng, tả hữu gươm giáo sáng quắc hai bên. Lân tự trói mình, quì xuống sân rồng. Ánh bảo: Ngươi theo hầu ta thế là chín năm một trăm ngày. Chín năm không làm hỏng việc gì, còn một trăm ngày thì hỏng việc, vô tích sự. Thế là trèo lên cây mà không hái được quả, đáng tội chết. Lân không nói năng gì, vươn cổ ra chịu chém. Nghe nói Nguyễn Ánh đã sai đao phủ dùng thanh kiếm gia truyền của Lân để chém đầu Lân. Khi chém đầu, máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại.

Viết truyện ngắn này, tôi muốn để tặng gia đình ông Quách Ngọc Minh để cảm ơn thịnh tình của gia đình ông đối với riêng tôi. Tôi cũng xin cảm ơn một số nhà nghiên cứu lịch sử và bạn bè quen biết đã giúp tôi sưu tầm chỉnh lý những tư liệu cần thiết cho công việc viết văn, vốn rất nhọc nhằn, phức tạp, lại buồn tẻ nữa của tôi…

Kiếm sắc 837 – thu vien, van hoc, van hoc viet nam, tho ca, nguyen huy thiep, truyen ngan, kiem sac.
Kiếm sắc.
Nguyễn Huy Thiệp

Về tác giả Nguyễn Huy Thiệp

Nhà văn xuất sắc nhất văn học Việt Nam đương đại (1950 – 2021), tác giả Tướng về hưu — truyện ngắn chấn động văn đàn năm 1987. Văn ông sắc lạnh, bạo liệt, khám phá tâm lý con người với chiều sâu hiện thực đặc sắc, được dịch ra nhiều ngôn ngữ.

Chuyên mục van-hoc-viet-nam

Để trở thành nhà văn

Để trở thành nhà văn

Duy Cần không hướng dẫn cho người đọc những kỹ thuật làm văn, cách xử lý văn bản, chọn lọc ngôn từ hay sửa sang cú pháp. Thông điệp mà tác giả thiết tha gử.

Để trở thành nhà văn
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tuân là tấm gương về sự kết hợp giữa tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm xã hội. Đối với Nguyễn Tuân, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật tr.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân
Các nhà văn nổi tiếng Việt Nam thời xưa

Các nhà văn nổi tiếng Việt Nam thời xưa

Ngoài ra, Phan Bội Châu còn sáng tác nhiều bài thơ yêu nước nổi tiếng như Hải ngoại huyết thư 1905, tác phẩm kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài học.

Các nhà văn nổi tiếng Việt Nam thời xưa
Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đình Thi

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đình Thi

Hoa và Ngần 1974, Giấc mơ 1977, Rừng trúc 1978, Nguyễn Trãi ở Đông Quan 1979, Người đàn bà hóa đá 1980, Tiếng sóng 1980, Cái bóng trên tường 1982, Trương C.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đình Thi
Quá trình sáng tác là gì?

Quá trình sáng tác là gì?

Giai đoạn ấp ủ không thể được thúc ép hay vội vàng, nó đòi hỏi sự kiên nhẫn và niềm tin vào quá trình sáng tạo của bản thân. Nhiều nhà văn mô tả cảm giác n.

Quá trình sáng tác là gì?
Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam

Hội có trụ sở chính đặt tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, một địa chỉ thuận tiện cho việc liên hệ và tổ chức các hoạt động ở miền Bắc.

Lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam
Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Trung Thu. Việc tuân thủ quy tắc này không chỉ thể hiện sự tôn trọng mà còn đảm bảo tính thống nhất và chuyên nghiệp trong văn bản. Ví dụ minh họaĐể minh h.

Kiến thức ngữ pháp tiếng Việt cơ bản và nâng cao

Chuyên mục tho-ca

Tiểu sử nhà văn Kim Lân

Tiểu sử nhà văn Kim Lân

Việt Nam, được nhiều thế hệ nghệ sĩ ngưỡng mộ và học tập. Vị thế trong lòng độc giả và ảnh hưởng văn hóa xã hộiTrong lòng độc giả, Kim Lân giữ một vị trí đ.

Tiểu sử nhà văn Kim Lân
Tiểu sử nhà thơ Thanh Hải

Tiểu sử nhà thơ Thanh Hải

Thông qua những tác phẩm của mình, ông đã chứng minh rằng thơ ca không nhất thiết phải hào hùng, rầm rộ mới có thể thể hiện được tinh thần yêu nước và ý th.

Tiểu sử nhà thơ Thanh Hải
Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Bắc, Tây Bắc.Năm 1950, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, từng làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Những trải nghiệm trong thời kỳ kháng chiến khôn.

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài
Tiểu sử nhà thơ Huy Cận

Tiểu sử nhà thơ Huy Cận

Trần Huy Liệu vào Huế dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại một sự kiện mang tính biểu tượng quan trọng trong lịch sử dân tộc.Sau Cách mạng tháng Tám, Huy Cận đảm.

Tiểu sử nhà thơ Huy Cận
Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Qua gần một thế kỷ kể từ khi những tác phẩm đầu tiên của ông ra đời, thơ Tố Hữu vẫn giữ được sức sống mãnh liệt, vẫn được đông đảo độc giả yêu mến và các n.

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu
Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Lan Viên là một trong những nhà thơ được độc giả yêu mến nhất, thơ ông được truyền tụng rộng rãi qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ vì giá trị nghệ thuật.

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên
Tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu

Tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu

Diệu viết bài thơ nổi tiếng ấy, theo lời kể của nhà thơ Hoàng Cát. Điều này cho thấy những bài thơ của Xuân Diệu không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Tiểu sử nhà thơ Xuân Diệu
Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Sang và tổng Cao Đà quê ông, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất quê hương.Cuộc đời của nhà văn Nam Cao là hành trình vất vả của một con người tài năng.

Tiểu sử nhà văn Nam Cao
Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Lâm Thị Mỹ Dạ. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự ghi nhận của cộng đồng văn học và nhà nước đối với những đóng góp của ông.Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Khoa Điềm từng làm báo Vùng lên của sinh viên Huế cùng với Trần Vàng Sao. Ban đầu, việc viết thơ của ông chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của tòa soạn, cần có một.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Nguyễn Huy Thiệp. Đánh giá của giới chuyên mônTheo nhà văn Bùi Quang Tú Cha tôi thường nói Nguyễn Huy Thiệp có bút pháp lạnh. Trong dòng chảy văn học hậu c.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu

Minh Châu đều trở thành những gợi ý đáng suy nghĩ và có tầm triết lý. Nhận xét này chỉ ra điều quý giá trong nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu khả năng biến.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu

Chuyên mục truyen-ngan

Lặng lẽ Sa Pa

Lặng lẽ Sa Pa

Họa sĩ hỏi. Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu đi xa lắm cơ, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra.

Lặng lẽ Sa Pa
Những người muôn năm cũ

Những người muôn năm cũ

Dạy tốt cho ai cơ Cái lũ ngốc đến đây học, cứ tưởng thứ họ học là văn hoá, là ánh sáng, có nó thì mọi việc sẽ tốt đẹp hơn Họ học những thứ chẳng để làm gì.

Những người muôn năm cũ
Muối của rừng

Muối của rừng

Chim bồ câu nhà ông có đầy. Đến chỗ ngoặt, ông Diểu giật mình bởi một tiếng soạt trong lùm dẻ gai. Một chùm dây màu sặc sỡ tung trước mắt ông. Ông nín thở.

Muối của rừng
Thiên văn

Thiên văn

Tự do thường nối theo sự tuyệt vọngnửa bước chânKhách một mình trên đò giữa mưa bão. Rất dễ lố bịch và thê thảm. Nhưng đấy là với kẻ tầm thường. Còn khách,.

Thiên văn
Nguyễn Thị Lộ

Nguyễn Thị Lộ

Trên các chân dung chính khách chỉ nhìn thấy các cơ mặt bất động hoàn toàn, biểu thị tinh thần chính trị tù đọng tột cùng. Số trẻ trung hơn, dễ thấy trên g.

Nguyễn Thị Lộ
Không có vua

Không có vua

Phật, lạy tổ, lạy tiên, lạy vợ tôi là Ngô Thị Nhớn. Mời tất cả chư vị về dự cơm nhạt với tôi. Tôi, Nguyễn Sĩ Kiền, sáu mươi tư tuổi, ngụ ở 129 phố Các con.

Không có vua
Sống dễ lắm

Sống dễ lắm

Mười một giáo sinh ra đón ngài thanh tra giáo dục, họ nửa khóc nửa cười khi thấy một ông già gày gò, mình trần thân trụi ướt như chuột lột đang ngồi rét ru.

Sống dễ lắm
Huyền thoại phố phường

Huyền thoại phố phường

Hai cú độc đắc là thành triệu phú Rồi chợt nghĩ ra, ông rút ở túi áo ngực ra hai chiếc vé xổ số. Ông trịnh trọng nói. Nhân danh định mệnh Tôi có hai vé xổ.

Huyền thoại phố phường
Cún

Cún

Trời mưa phùn, cái lạnh thấm vào người làm Cún tê buốt. Đầu Cún nóng bừng, thỉnh thoảng Cún lại ngất đi mê man. Chỉ hơn trăm mét mà Cún thấy xa xôi quá.

Cún
Thương cả cho đời bạc

Thương cả cho đời bạc

ICó người mang tặng Tú Xựơng một cái lồng chim. Thấy con chim bị nhốt, Tú Xương thương tình thả cho nó bay. ông bảo Ngã phóng, nhĩ phi, dực mao tác vũ.

Thương cả cho đời bạc
Đưa sáo sang sông

Đưa sáo sang sông

Được, bà cứ rót đi quang cảnh ở đây vẫn cứ như xưa Cây thì vẫn đứng thế thôi. Hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau Thì nhà quê mà Bà Hai Thoan chép miệng S.

Đưa sáo sang sông
Kiếm sắc

Kiếm sắc

Ngủ thì thôi, tỉnh lại nhớấy là trời buộcCô quạnh vì nàngTa đi săn, đi câuVẻ đẹp hoàn hảoVẻ đẹp thiên kimBao giờ bốc mộNhỏ cho một giọt nước mắtKìa trăm nă.

Kiếm sắc

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ