Văn hay trong hiện tại, chữ tốt ở tương lai

Đường xưa mây trắng | Chương 68

Sariputta tiếp xử với đại đức Devadatta như là một người bạn tri kỷ. Vậy mà không biết vì lý do nào Devadatta gần đây đã nảy ý ganh ghét, ngay cả với Bụt.

19 phút đọc.

0 lượt xem.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một nhà sư, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội và hòa bình nổi tiếng trên thế giới. Ông là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân. Ông cũng là người đưa ra khái niệm chánh niệm, một phương pháp tu tập và sống đời giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với bản thân, với mọi người và với thiên nhiên.

Tôi viết Đường Xưa Mây Trắng ở quán Xóm Thượng, khi chưa có lò sưởi trung ương, chỉ một lò củi nhỏ giữa trời lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc.

Rời miền biển, Bụt trở về Pataliputta, ghé Vesali và đi lên hướng Tây Bắc, quê hương của người. Khi tới Samagama, thuộc nội địa vương quốc Sakya, Bụt nghe nói vị giáo chủ của giáo phái Nigantha là Nathaputta đã qua đời, và giáo đoàn du sĩ Nigantha đã bị chia rẽ trầm trọng làm hai cánh. Hai bên chống đối nhau rất kịch liệt về mặt giáo lý cũng như về mặt tổ chức khiến cho giới đệ tử tại gia của họ rất đau khổ, không biết theo ai.

Chú sa di Cunda thị giả của đại đức Sariputta đã tới gặp đại đức Ananda và kể lại những chuyện trên, vì trong khi an cư ở Pava, chú đã nghe hết mọi chi tiết. Thầy Ananda liền đem câu chuyện chia rẽ của giáo phái Nigantha bạch lên Bụt. Thầy nói, giọng rầu rầu:

– Lạy Bụt, con mong sau khi người diệt độ, sẽ không có sự chia rẽ trong hàng ngũ giáo đoàn khất sĩ như thế. Con không ưa sự chia rẽ và tranh chấp một chút nào hết.

Bụt vỗ vai Ananda:

– Này Ananda, thầy có thấy các vị khất sĩ trong giáo đoàn ta tranh chấp và cãi vã nhau về nội dung các pháp môn như Tứ Niệm Xứ, Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề và Bát Chánh Đạo không?

– Lạy Bụt, con chưa thấy có vị khất sĩ nào tranh chấp và cãi cọ về nội dung giáo lý, nhưng con nghĩ khi Bụt còn tại thế, nhờ đức của Bụt ai cũng nương tựa vào Bụt, nghe lời Bụt và tu học yên ổn không có vấn đề gì, nhưng một khi Bụt trăm tuổi, họ có thể bắt đầu tranh chấp với nhau về giới luật và về cách thức sinh hoạt và hoằng hóa. Nếu điều này xảy ra thì nhiều người sẽ buồn lắm và sẽ mất tin tưởng ở đạo pháp.

Bụt an ủi Ananda:

– Đừng lo ngại, Ananda, chừng nào mà có sự tranh chấp và cãi cọ trong giáo đoàn về nội dung giáo lý, về các pháp môn tu tập như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề, Bát Chánh Đạo… thì lúc đó ta mới nên e ngại, còn những tranh chấp về tổ chức, về giới luật và về lề thói sinh hoạt, tuy có thể xảy ra, nhưng cũng không đáng ngại lắm đâu.

Tuy được Bụt trấn an, đại đức Ananda vẫn không tươi tỉnh lắm. Thầy mới nghe tin là tại Vesali, đại đức Sunakkhata, ngày xưa từng làm thị giả cho Bụt, nay đã rời bỏ giáo đoàn khất sĩ vì những bất mãn riêng tư. Thầy ấy đã bắt đầu tổ chức những cuộc diễn giảng chống lại Bụt và giáo đoàn. Đi tới đâu Sunakkhata cũng nói: Sa môn Gotama cũng chỉ là người thường thôi, không có gì đặc biệt hơn ai và giáo pháp của sa môn Gotama chỉ đem tới sự giải thoát cá nhân, chẳng có ích lợi gì cho xã hội. Sunakkhata đã bắt đầu gây hoang mang trong quần chúng. Điều này chính đại đức Sariputta cũng đã biết.

Đại đức còn biết rằng mầm chia rẽ đã manh nha trong giáo đoàn ở thủ đô Rajagaha.

Một nhóm các vị khất sĩ tại Rajagaha trong đó có đại đức Devadatta đang âm thầm tổ chức một giáo đoàn khất sĩ độc lập với giáo đoàn của Bụt. Cộng tác với thầy Devadatta có nhiều thầy cũng thuộc hạng giỏi như các đại đức Kokalita, Katamoraka Tissa, Khandadeviputta và Samuddadatta.

Thầy Devadatta vốn là một trong những người đệ tử lớn, thông minh và tài giỏi nhất của Bụt. Chính sư huynh Sariputta đã từng khen ngợi đại đức Devadatta ngay giữa các đám đông vùng Rajagaha. Đã có lúc đại đức Sariputta tiếp xử với đại đức Devadatta như là một người bạn tri kỷ. Vậy mà không biết vì lý do nào Devadatta gần đây đã nảy ý ganh ghét, ngay cả với Bụt. Thầy Ananda không biết là đã có ai trình lên Bụt các vụ này chưa. Riêng thầy, thầy rất ái ngại phải nói để Bụt nghe những chuyện đau buồn như thế.

Mùa mưa năm sau, Bụt lại về Savatthi và an cư tại vườn Cấp Cô Độc. Đầu mùa an cư, người giảng kinh Pháp Ấn.

Hôm đó, tại giảng đường Kỳ Thọ, Bụt nói:

– Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không? Hôm nay tôi muốn nói cho quý vị nghe về pháp ấn ấy. Quý vị hãy tháo bỏ mọi tri kiến để cho tâm hồn thanh tịnh thì mới nghe, hiểu và tiếp thụ được.

Các vị khất sĩ! Pháp ấn là con dấu chứng thực tích cách chân xác của chánh pháp. Có ba con dấu tất cả. Bất cứ một giáo lý nào, một pháp môn nào mà không có dấu vết của ba con dấu ấy, thì không phải là giáo lý của tôi nói. Ba con dấu là không, vô tướng, và vô nguyện. Ba con dấu ấy cũng là ba cánh cửa để đi vào thế giới của giải thoát. Vì vậy pháp ấn cũng được gọi là ba cánh cửa giải thoát, hay tam giải thoát môn.

Các vị khất sĩ! Con dấu thứ nhất là không (sunnata).

Không ở đây có nghĩa là rỗng không, không có tự ngã riêng biệt. Không ở đây không có nghĩa là không đối với có. Như các vị đã biết, chấp có và chấp không là hai kiến chấp sai lầm. Vậy không ở đây có nghĩa là không có một tự ngã riêng biệt, không có một sự tồn tại riêng biệt. Vạn pháp nương vào nhau mà có mặt, không có pháp nào có thể phát sinh và tồn tại một cách độc lập. Các pháp sinh khởi và tồn tại trong liên hệ nhân duyên chằng chịt, cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Do đó, bản chất của không là duyên khởi. Này các vị! Các vị phải tập nhìn vạn pháp trong liên hệ nhân duyên của chúng để thấy được rằng trong một pháp có mặt tất cả vạn pháp, để thấy rằng trong cái một có cái tất cả và ngoài cái một, cái tất cả không thể nào tồn tại. Quán chiếu mười tám giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức, quán chiếu năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, các vị sẽ thấy được rằng không có giới nào cũng như không có uẩn nào có tự thể riêng biệt, rằng tất cả đều nương vào nhau mà đứng. Thấy được tính không ấy rồi thì thấy được tính không của vạn pháp. Thấy được tính không ấy rồi thì các vị không còn ước muốn theo đuổi hoặc trốn chạy bất cứ một pháp nào nữa và các vị sẽ đồng thời vượt thoát những tham đắm, phân biệt hoặc kỳ thị đối với tất cả các pháp. Quán chiếu về tính không tức là mở ra một cánh cửa để đi vào thế giới của tự do. Vì vậy không là cánh cửa giải thoát thứ nhất.

Các vị khất sĩ! Con dấu thứ hai là vô tướng (animita). Vô tướng tức là vượt thoát những khuôn khổ của tri giác và của nhận thức phân biệt. Vì không thấy được tự tính duyên khởi của các pháp, vì không chứng đắc được tính không của các pháp, cho nên người đời thường nhìn các pháp như những hiện tượng riêng biệt, độc lập, cái này tồn tại ngoài cái kia, cái này có mặt độc lập với tất cả cái kia. Nhìn các pháp như thế cũng giống như là lấy thanh gươm của nhận thức phân biệt để chặt thực tại ra từng mảnh nhỏ rời rạc, và như thế là không thấy được tự thân của thực tại. Này các vị! Vạn pháp tùy thuộc vào nhau, cái này có trong cái kia, cái này lồng trong cái kia, trong một cái có tất cả mọi cái. Đó là ý nghĩa hai từ tương nhập và tương tức. Tương nhập là đi vào trong nhau; tương tức là nương vào nhau. Cái này đi vào trong cái kia, cái kia đi vào trong cái này; cái này là cái kia, cái kia là cái này. Quán chiếu như thế các vị sẽ thấy rằng trigiác của chúng ta đầy dẫy sai lầm. Con mắt của cảm giác không thấy được vạn hữu rõ ràng và chính xác bằng con mắt quán chiếu của trí tuệ. Có khi nhìn sợi dây, con mắt của cảm giác và của tri giác có thể nhận lầm là con rắn, nhưng dưới con mắt của quán chiếu, tự thân của sợi dây được hiển lộ rõ ràng và hình bóng con rắn sẽ tự nhiên tiêu diệt.

Các vị khất sĩ! Các tướng trạng như có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt… đều là những tướng trạng mà tri giác và nhận thức phân biệt úp chụp vào thực tại. Đối với đệ nhất nghĩa đế, thì tự thân thực tại không bị giam nhốt trong những phạm trù phân biệt đó, không bị khuôn khổ trong các tướng trạng đó của nhận thức phân biệt. Vì vậy cho nên vạn pháp được gọi là vô tướng. Quán chiếu để làm tan rã những ý niệm có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt… các vị sẽ đạt tới giải thoát. Vô tướng vì vậy là cánh cửa mầu nhiệm thứ hai mở ra để ta đi vào thế giới của tự do. Vô tướng là cánh cửa giải thoát thứ hai.

Các vị khất sĩ! Con dấu thứ ba là vô tác, hay là vô nguyện (appanithita). Vô nguyện là không đuổi theo bất cứ một cái gì.Tại sao thế? Thói thường người ta hay muốn trốn chạy khỏi một pháp để đuổi theo một pháp khác. Người đời ưa trốn chạy sự nghèo khổ để đuổi theo sự giàu sang. Người tu đạo ưa trốn chạy sinh tử để đuổi theo giải thoát. Nhưng nếu các pháp có mặt trong nhau, nếu các pháp là nhau, thì ta còn cần trốn chạy pháp nào và đuổi theo pháp nào? Trong sinh tử đã có Niết bàn, trong Niết bàn đã có sinh tử, Niết bàn và sinh tử không phải là hai thực thể riêng biệt. Vậy thì ruồng bỏ sinh tử để chạy theo Niết bàn tức là chưa chứng nhập được thể tính duyên sinh của vạn pháp. Chưa chứng nhập tự tính không và vô tướng của vạn pháp. Quán chiếu vô nguyện là để chấm dứt ngay sự tìm cầu và theo đuổi.

Giải thoát và giác ngộ không phải là những pháp có mặt ở ngoài ta. Chỉ cần mở mắt để chiêm nghiệm, thì ta thấy được ta chính là bản thân của giải thoát và giác ngộ. Tất cả các pháp, tất cả chúng sinh đều có sẵn tự tính giác ngộ tròn đầy trong tự thân mình. Các vị đừngđi tìm tự tính ấy ở bên ngoài. Nếu biết xoay ánh sáng quán chiếu vào tự thân, tự khắc các vị thực hiện được giác ngộ. Các vị khất sĩ! Tất cả các pháp trong vũ trụ không pháp nào tồn tại độc lập ngoài nhận thức của các vị, trong đó kể cả Niết bàn, kể cả Giải thoát. Các vị không cần đi tìm cầu những thứ ấy ở đâu nữa. Các vị nên nhớ rằng đối tượng nhận thức không tồn tại độc lập với nhận thức. Không đuổi theo một pháp nào, kể cả Phạm Thiên, Niết bàn và Giải thoát, đó là ý nghĩa của vô nguyện. Các vị đã là cái các vị đang đi tìm.

Vô nguyện, do đó, là cánh cửa mầu nhiệm thứ ba mở ra để ta đi vào thế giới của tự do.

Vô nguyện là cánh cửa giải thoát thứ ba vậy.

Các vị khất sĩ! Đó là giáo lý pháp ấn, đó là pháp môn ba cánh cửa giải thoát. Tam Giải Thoát Môn là pháp môn rất vi diệu, rất mầu nhiệm, các vị nên hết lòng học hỏi và thực tập. Tu tập theo pháp này chắc chắn quý vị sẽ đạt tới tri kiến thanh tịnh, và thực hiện được giải thoát.

Bụt nói xong kinh Pháp Ấn, đại đức Sariputta đứng dậy đảnh lễ Bụt. Đại chúng thấy thế đều đứng dậy và lạy xuống để tạ ơn Thế Tôn.

Đại đức Sariputta tuyên bố với đại chúng là ngày hôm sau sẽ có một buổi trùng tuyên và học hỏi về kinh này. Đại đức nói đây là một kinh thâm diệu vô cùng, phải đem hết sinh mạng và tâm chí ra mà học hỏi và thực tập mới mong có thể hiểu được. Đại đức Svastika thấy kinh này có liên hệ tới kinh Không mà Bụt dạy năm ngoái. Bụt đã hướng dẫn các đệ tử của người từ những giáo lý đơn giản đến những giáo lý càng ngày càng huyền nhiệm. Thầy thấy các vị trưởng thượng như Mahakassapa, Sariputta, Punna, Moggallana… ai nấy đều tỏ vẻ sung sướng cực kỳ khi được nghe kinh này. Thầy nhớ năm ngoái khi Bụt giảng xong kinh Không, thầy Sariputta cũng đã lên lạy Bụt, và tất cả các vị trưởng thượng trong giáo đoàn cũng đã lên bắt chước đại đức Sariputta. Tình thầy trò thật rất thắm thiết.

Chiều ngày hôm sau, các đại đức Yamelu và Tekula đến tìm Bụt ở tịnh thất của người. Hai đại đức này đều xuất thân từ dòng dõi Bà la môn. Đó là hai anh em ruột. Họ nổi tiếng là lão thông văn chương, cú pháp và nhất là cổ ngữ. Giọng phúng tụng và xướng tán của họ rất thanh tao, trong như tiếng chuông và hùng mạnh như tiếng trống. Gặp Bụt, hai đại đức lạy xuống. Bụt mời họ ngồi:

Đại đức Yamelu nói:

Thế Tôn, chúng con muốn xin phép Thế Tôn để trình bày về vấn đề chuyển ngữ trong công cuộc hoằng pháp. Bạch Thế Tôn, trong khi Thế Tôn thuyết pháp, người thường dùng ngôn ngữ Magadhi, ở Magadha hay ở Kosala cũng vậy. Nhưng trong giới khất sĩ có nhiều vị không sử dụng được tiếng Magadhi, và ở những miền họ hành đạo dân chúng cũng không biết tiếng Magadhi. Vì vậy pháp âm của người đã được chuyển dịch thành rất nhiều thứ tiếng của nhiều giống dân khác nhau. Thời chưa xuất gia, chúng con đã may mắn học được nhiều sinh ngữ, và chúng con nhận xét rằng ở nhiều nơi người ta đã làm sai lệch và méo mó pháp âm vi diệu của người bằng cách diễn dịch pháp âm ấy thành nhiều thổ ngữ. Chúng con xin Bụt cho phép chúng con đem tất cả các kinh giáo của người viết thành ngôn ngữ Sanskrit cổ điển. Nếu các vị khất sĩ bốn phương đều học thuộc pháp âm người qua cổ ngữ ấy thì chắc chắn chúng ta tránh được cái nạn làm méo mó và sai lệch tiếng nói của Bụt.

Bụt im lặng một lát rồi ngửng lên nhìn hai vị đại đức:

– Các vị làm như thế không tiện, đạo pháp là một thực thể linh động, ngôn ngữ để chuyên chở giáo pháp phải là những sinh ngữ đang được sử dụng. Tôi không muốn giáo lý của chúng ta được trình bày bằng một cổ ngữ, trừ những người trí thức, ít ai hiểu và cảm được giáo lý qua một cổ ngữ. Các thầy Yamalu và Tekula, tôi muốn nói rõ với quý vị là giới môn đệ của tôi, xuất gia cũng như tại gia, đều phải học hỏi và thực tập giáo pháp bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình. Như vậy giáo pháp mới linh động và dễ hiểu. Giáo pháp phải được thích ứng với đời sống hiện tại và phải được trình bày như thế nào để thích hợp và dễ hiểu với văn hóa địa phương.

Hiểu được ý Bụt, hai đại đức Yamelu và Tekula đảnh lễ người và rút lui.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 01 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 02 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 03 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 04 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 05 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 06 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 07 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 08 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 09 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 10 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 11 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 12 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 13 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 14 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 15 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 16 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 17 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 18 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 19 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 20 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 21 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 22 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 23 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 24 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 25 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 26 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 27 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 28 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 29 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 30 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 31 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 32 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 33 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 34 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 35 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 36 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 37 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 38 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 39 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 40 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 41 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 42 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 43 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 44 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 45 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 46 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 47 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 48 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 49 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 50 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 51 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 52 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 53 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 54 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 55 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 56 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 57 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 58 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 59 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 60 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 61 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 62 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 63 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 64 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 65 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 66 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 67 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 68 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 69 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 70 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 71 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 72 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 73 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 74 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 75 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 76 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 77 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 78 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 79 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 80 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 81 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 82 tại đây.

Đọc Đường xưa mây trắng, chương 83 tại đây.

Đường xưa mây trắng | Chương 68 621 – thu vien, van hoc, van hoc viet nam, doan van, ton giao, phat giao, thien van, thuc hanh ton giao, thich nhat hanh, duong xua may trang, duong xua may trang chuong 69, duong xua may trang 69.
Đường xưa mây trắng | Chương 68.

Chuyên mục van-hoc

Văn Sử Triết bất phân là gì?

Văn Sử Triết bất phân là gì?

Tiếp cận hiện tượng Văn Sử Triết bất phân từ góc độ học thuật, nhằm xác lập hệ quy chiếu đồng đại đủ công bằng để người đọc hôm nay có thể hiểu người xưa.

Văn Sử Triết bất phân là gì?
Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Khoa Điềm từng làm báo Vùng lên của sinh viên Huế cùng với Trần Vàng Sao. Ban đầu, việc viết thơ của ông chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của tòa soạn, cần có một.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Sang và tổng Cao Đà quê ông, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất quê hương.Cuộc đời của nhà văn Nam Cao là hành trình vất vả của một con người tài năng.

Tiểu sử nhà văn Nam Cao
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long

Có được một tác phẩm sống mãi cùng năm tháng cũng đã là quý giá.Trong bối cảnh văn học Việt Nam sau 1945, Nguyễn Thành Long được xếp vào nhóm những nhà văn.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Thành Long
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân

Tuân là tấm gương về sự kết hợp giữa tình yêu nghệ thuật và trách nhiệm xã hội. Đối với Nguyễn Tuân, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật tr.

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Tuân
Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Lâm Thị Mỹ Dạ. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự ghi nhận của cộng đồng văn học và nhà nước đối với những đóng góp của ông.Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiểu sử nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh

Quỳnh vượt xa ranh giới của một nhà thơ thông thường, bà đã trở thành một hiện tượng văn hóa cultural phenomenon, một biểu tượng của tình yêu và phẩm chất.

Tiểu sử nhà thơ Xuân Quỳnh
Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Bắc, Tây Bắc.Năm 1950, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, từng làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Những trải nghiệm trong thời kỳ kháng chiến khôn.

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài
Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Lan Viên là một trong những nhà thơ được độc giả yêu mến nhất, thơ ông được truyền tụng rộng rãi qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ vì giá trị nghệ thuật.

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên
Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Qua gần một thế kỷ kể từ khi những tác phẩm đầu tiên của ông ra đời, thơ Tố Hữu vẫn giữ được sức sống mãnh liệt, vẫn được đông đảo độc giả yêu mến và các n.

Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Chuyên mục ton-giao

Triết học chỉ là một mớ vô nghĩa?

Triết học chỉ là một mớ vô nghĩa?

Triết học, cùng toán học và logic, là nền tảng trí tuệ cổ xưa. Tìm hiểu tại sao triết học vẫn quan trọng và không phải là mớ vô nghĩa như nhiều người nghĩ.

Triết học chỉ là một mớ vô nghĩa?
Chủ nghĩa hư vô (nihilism) là gì?

Chủ nghĩa hư vô (nihilism) là gì?

Chủ nghĩa hư vô, nổi tiếng qua triết gia Friedrich Nietzsche, đặt câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống. Tìm hiểu tư tưởng này và tác động của nó đến thế giới hiện đại.

Chủ nghĩa hư vô (nihilism) là gì?
Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn

Freud và Đức Phật đưa ra cách đối phó ham muốn. Tìm hiểu tư tưởng của họ về dục vọng và cách vượt qua để sống cân bằng trong xã hội hiện đại.

Freud và Đức Phật tranh luận về ham muốn
Có cuộc sống sau khi chết không?

Có cuộc sống sau khi chết không?

Bạn sẽ chết. Cho dù bạn có quyền lực đến đâu, cầu nguyện chăm chỉ thế nào, hay công nghệ nano trở nên tiên tiến ra sao, bạn vẫn sẽ chết.

Có cuộc sống sau khi chết không?
Chơi đùa với tôn giáo

Chơi đùa với tôn giáo

Với nhiều người, những ký ức thời thơ ấu về tôn giáo gắn liền với những bà cụ hay yêu cầu giữ im lặng và những linh mục nghiêm khắc.

Chơi đùa với tôn giáo
An nhiên trong cơn mưa

An nhiên trong cơn mưa

Sự ồn ào ấy ấy cũng như tiếng mưa ập xuống, đều được gọi là tiếng ồn trắng. Tiếng ồn trắng là một khái niệm để chỉ tập hợp của các loại tiếng ồn mà con ng.

An nhiên trong cơn mưa
Trải nghiệm tâm linh số trong metaverse

Trải nghiệm tâm linh số trong metaverse

Tâm linh trực tuyến trong metaverse mang đến thiền, hành hương ảo. Khám phá cách công nghệ định hình trải nghiệm tâm linh số.

Trải nghiệm tâm linh số trong metaverse
Ý nghĩa cuộc sống qua góc nhìn vũ trụ học

Ý nghĩa cuộc sống qua góc nhìn vũ trụ học

Giáo sư vũ trụ học khám phá ý nghĩa cuộc sống qua lý thuyết tương đối hẹp của Einstein, từ các phương trình toán học đến bất biến không – thời gian.

Ý nghĩa cuộc sống qua góc nhìn vũ trụ học
Tư duy xanh để sống an lành

Tư duy xanh để sống an lành

Điều này có thể khó khăn để thực hiện, nhưng sẽ không khó nếu chúng ta có một tư duy xanh để nương theo và hành động. Để biết cái gì là đúng, cái gì là sa.

Tư duy xanh để sống an lành
Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Với những người làm nhân sự, cuối tuần là thời điểm tái tạo và phục hồi sức lao động. Nhưng định nghĩa là một chuyện, còn tái tạo và phục hồi như thế nào.

Cân bằng tinh thần và công việc cuối tuần

Chuyên mục thuc-hanh-ton-giao

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến

Một khía cạnh khác, ta cũng nên biết rằng trong các loại thực phẩm thì hàm lượng chất xơ chiếm tương đối cao. Chất này sẽ giúp chúng ta no bền, hạn chế cơ.

Những quan niệm sai lầm khi ăn chay phổ biến
Tam bảo (Triratna – 三寶) là gì?

Tam bảo (Triratna – 三寶) là gì?

Tam bảo là 3 nơi nương tựa trong Phật giáo gồm Phật, Pháp, Tăng, dẫn dắt con người đến giác ngộ và giải thoát khổ đau.

Tam bảo (Triratna – 三寶) là gì?
Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn

Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn

Đôi nét về Trịnh Công Sơn Không cần quan tâm đến nhạc, thì nhiều người vẫn biết Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài ba. Tuy vậy, ngoài với vai trò nhạc sĩ,.

Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn
Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo

Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo

Tư duy đúng đắn Không vướng mắc, không chứa chấp những muộn phiền khổ đau trong người. Hiểu biết đúng đắn Trang bị kiến thức, quan điểm đúng đắn và hướn.

Hiểu đúng chữ Khổ trong Phật giáo
Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc

Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc

Trong khi sự thiên vị phản khoa học của chủ nghĩa chính thống tôn giáo đòi hỏi phải lên án, nếu chúng ta có một cái nhìn rộng hơn.

Tin vào tôn giáo và khoa học cùng lúc
Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?

Sự gấp gáp của thời đại đã phá hủy nén nhang như thế nào? Những nét đẹp trong dòng chảy văn hóa lịch sử dần bị mai một khi nhịp sống hiện đại cần sự gấp g.

Khi nhắp nhang, chúng ta nên nghĩ gì?
Chánh niệm cân bằng tinh thần và công việc

Chánh niệm cân bằng tinh thần và công việc

Trách nhiệm khi thực hành công việc là điều thiết yếu. Thành công khi thực hành công việc là một điều tất yếu. Nhưng đừng vì những điều ấy mà ta bỏ qua sự.

Chánh niệm cân bằng tinh thần và công việc
Tắm mưa để gột rửa tâm hồn

Tắm mưa để gột rửa tâm hồn

Bài viết trên đây nhằm chia sẻ và chỉ dẫn đến các bạn một liệu pháp cho tâm hồn. Hy vọng thông qua bài viết này các bạn sẽ hiểu, và có thêm một lựa chọn đ.

Tắm mưa để gột rửa tâm hồn

Theo dõi hành trình

Hãy để lại thông tin, khi có gì mới thì Nhà văn sẽ gửi thư đến bạn để cập nhật. Cam kết không gửi email rác.

Họ và tên

Email liên lạc

Đôi dòng chia sẻ