Xa lạ trong tôi chương 36 kể cuộc đời người bán boza Mevlut Karataş và bức tranh Istanbul từ 1969 đến 2012 qua nhiều nhân vật. Tác phẩm của nhà văn đạt giả Noel Văn học 2009 Orhan Pamuk.
Đọc Xa lạ trong tôi chương 36
Giáo trưởng.
Tôi chịu một bất công ghê gớm.
Rayiha. Hai tuần trôi qua rồi mà vẫn không có tin tức gì về xe cơm gà. Mevlut đi bán boza đến quá nửa đêm, sáng ra anh dậy trễ, anh mặc pyjama chơi trốn tìm và bịt mắt bắt dê với Fatma và Fevziye đến trưa. Fatma mới sáu tuổi, và Fevziye năm tuổi, cũng nhận ra có gì đó không ổn vì ở nhà không còn thấy nấu cơm hay gà gì nữa, chiếc xe trắng ba bánh mà chúng rất thích và mỗi tối xích vào cây hạnh nhân không còn đó nữa. Chúng chơi hết mình như thể để nén nỗi lo cha thất nghiệp; khi chúng la hét ầm ĩ quá thì tôi thét lên với Mevlut:
Dẫn tụi nó ra công viên Kasımpaşa cho có chút không khí đi.
Em gọi điện cho Vediha thử, Mevlut nói lí nhí. Biết đâu có tin.
Nói Mevlut đến tòa thị chính Şişli, một tối Korkut nói. Ở tầng hai, có gã dân Rize người của Vural, hắn sẽ giúp nó một tay.
Tối đó Mevlut mừng vui quá không ngủ được. Mai lại, anh dậy từ sớm, cạo râu, mặc bộ đồ đẹp nhất rồi cuốc bộ đến tận Şişli. Khi tìm được xe trắng, anh sẽ sơn lại, trang hoàng nó và không bao giờ bỏ nó một mình không coi ngó nữa.
Người đàn ông gốc Rize làm ở tầng hai tòa thị chính là người quan trọng và rất bận bịu, liên tục quát mắng công dân xếp hàng chờ. Hắn để Mevlut chờ cả nửa giờ trong góc rồi mới ngoắc ngón tay gọi anh. Mevlut theo sát gót gã người Rize và họ xuống cầu thang tối. Họ đi qua các hành lang hẹp có mùi xà phòng đen, các văn phòng bít bùng toàn công chức đọc báo và một phòng ăn tập thể làm cả tầng hầm bốc mùi dầu mỡ bát dĩa rồi đi ra một khoảng sân.
Thấy các xe bán hàng gửi tạm trong một góc sân tối kẹp giữa các tòa nhà âm u, Mevlut mừng rỡ. Khi bước về phía đó thì anh thấy ở một góc khác hai nhân viên đô thị đang dùng rìu chẻ một xe còn người thứ ba lựa ra bánh xe, ván gỗ, bếp lò hay tủ kính. Sao rồi, anh chọn được chưa? gã gốc Rize đến cạnh anh hỏi. Xe tôi không có ở đó, Mevlut đáp.
Chẳng phải anh nói họ lấy xe của anh một tháng rồi sao? Ở đây bọn tôi đập bỏ xe ngay hôm sau. Rất tiếc, nhưng xe anh cũng bị đập bỏ rồi. Những xe này là cảnh sát đô thị hốt lên xe tải hôm qua. Nếu ngày nào bọn này cũng tịch thu thì sẽ có loạn. Nhưng nếu bọn này không gom, cả Tiểu Á sẽ ùa tới Taksim để bán khoai tây. Sẽ không còn gì của Beyoğlu nữa, không còn một đường nào sạch sẽ. Nếu bọn này trả xe cho tất cả mọi người, ngày mai ta sẽ thấy họ tràn ngập Taksim… Anh thấy vừa ý xe nào thì cứ lấy đi, trước khi người ta đập bỏ…
Mevlut nhìn mấy chiếc xe như người đi mua sắm. Một xe có một tủ kính như xe của anh, bằng gỗ tốt và có bánh xe dày chắc chắn. Nó không có bếp gas, chắc đã bị lấy trộm. Nhưng nó được giữ gìn cẩn thận và mới hơn xe anh. Anh thoáng thấy có lỗi.
Tôi muốn xe tôi.
Ê anh bạn, anh bán rong không phép ở chỗ cấm. Xe anh bị giữ, và rủi là bị rã rồi. Giờ, vì anh được gửi gắm, tôi đề nghị anh lấy không một xe khác. Lấy đi mà kiếm cơm để tụi nhỏ và vợ anh khỏi chết đói.
Tôi không muốn, Mevlut đáp.
Ngoài các bưu thiếp có lá cờ Thổ và hình Atatürk, chủ chiếc xe được giữ gìn cẩn thận còn dán trong góc tủ kính hình vũ công múa bụng nổi tiếng Seher Şeniz. Mevlut không hài lòng chuyện này.
Anh chắc là không muốn? gã gốc Rize hỏi. Tôi chắc, Mevlut vừa nói vừa đi trở lui.
Anh thật đúng là kỳ quặc… Mà làm sao anh quen được Hadji Hamit Vural?
Thì tôi quen, Mevlut đáp ra vẻ bí hiểm.
Nếu anh quen Hadji Hamit đến nỗi được giúp đỡ vậy thì đừng bán rong nữa mà hỏi xin ông ta một việc. Anh mà làm đốc công một công trường của ông ta thì một tháng cũng kiếm được bằng cả năm đi bán.
Ra ngoài, trên quảng trường, đời sống tiếp tục như mọi ngày. Mevlut thấy xe bus inh ỏi, đàn bà đi mua sắm, đàn ông nạp gas bật lửa, người bán vé số, học trò mặc áo khoác đồng phục cười đùa la hét, một người bán sandwich và trà trước xe ba bánh, cảnh sát, đàn ông mặc com lê thắt cà vạt. Anh cảm thấy giận họ như người vừa mất người phụ nữ mình thương và không chịu nổi thấy người khác vẫn tiếp tục sống như bình thường. Tay viên chức gốc Rize cũng thiếu tôn trọng anh, kẻ cả với anh.
Giống như thời trung học, anh đi lang thang ngoài đường, tức giận. Đến một khu vực ở Kurtuluş mà anh chưa hề biết, thấy lạnh, anh vào một quán cà phê và ngồi lại đó ba tiếng xem tivi. Anh mua một gói Maltepe, anh hút như ống khói và nghĩ chuyện tiền nong. Rayiha sẽ phải dồn sức vào việc thêu thùa. Anh về nhà muộn hơn thường lệ. Rayiha và các con hiểu theo vẻ mặt anh là người ta không trả lại xe cho anh, hay thậm chí nó đã biến mất – nó đã chết. Mevlut không nói gì với họ. Căn nhà chìm trong bầu không khí tang tóc. Rayiha đã làm cơm và gà, tưởng ngày mai Mevlut sẽ đi bán; họ lẳng lặng ăn. Phải mà mình lấy chiếc xe còn tốt họ cho không mình! Mevlut nghĩ. Chủ chiếc xe lúc này chắc đang ủ dột đâu đó trong thành phố.
Anh thấy nặng trĩu trong lòng. Anh thấy như một con sóng lớn đen mù đang ập đến không sao tránh khỏi và sẽ nuốt chửng anh. Anh lấy gánh boza và ra đường sớm, trước khi đêm xuống hẳn, trước khi bị con sóng tối đen này nuốt: vì bước đi giúp anh nguôi ngoai; vì, khi vừa rảo bước vừa rao Boozaa vào đêm đen, anh thấy dễ chịu hơn.
Từ khi bị tịch thu xe, buổi tối anh ra đường sớm hơn, từ trước các bản tin. Anh xuống thẳng đại lộ mới mở về hướng cầu Atatürk, tìm các phường mới phía bên Sừng Vàng để bán được nhiều hơn, anh bước nhanh, khi thì lo lắng, lúc lại có cảm hứng hoặc giận dữ.
Những năm đầu đến Istanbul, cha con anh buổi sáng đến đây để mua boza ở tiệm boza Vefa. Thời ấy, họ không dám bước chân vào mạng lưới các đường nhỏ và không bao giờ đến các phường này khi trời tối. Thời ấy, các nhà gỗ hai tầng, cửa sổ lồi không sơn, người ta thường khép màn, tắt đèn sớm, không ai uống boza và sau mười giờ tối, đường sá thành lãnh địa của từng đàn chó hoang như từ thời Ottoman.
Sau khi băng qua cầu Atatürk, Mevlut đi ra Zeyrek và, anh bước nhanh qua các đường nhỏ đến tận khu vực kế cận Fatih, Çarşamba, Karagümrük. Anh cảm thấy dễ chịu hơn mỗi khi rao Boozaa. Phần lớn nhà gỗ cách đây hai mươi lăm năm đã bị phá hủy và nhường chỗ cho các tòa nhà bê tông bốn năm tầng giống những cái xây ở Feriköy, Kasımpaşa hay Dolapdere. Họa hoằn, có người trên các tòa nhà này vén màn mở cửa sổ để chào Mevlut như một người đưa tin lạ lùng từ thời quá vãng.
Tiệm boza Vefa ở gần đây thôi nhưng chúng tôi không nghĩ chuyện ghé mua boza. Nhưng khi nghe giọng cảm động của anh, chúng tôi không đừng được. Bao nhiêu một ly? Anh người vùng nào?
Mevlut nhận thấy những mảnh đất bỏ không đã phủ kín các tòa nhà bê tông, các nghĩa trang biến mất, còn các phường, ngay cả hẻo lánh nhất, từ nay cũng có những thùng to thay cho từng đụn rác thiên hạ đổ đống ở góc đường, nhưng ban đêm từng đàn chó vẫn chiếm lĩnh nơi đây.
Cái anh không hiểu là vì sao khi anh vào các hẻm âm u, lũ chó tỏ ra thù địch thậm chí hung hăng với anh. Nếu chúng đang ngủ đâu đó hay bới các đống rác, chúng sửng cồ lên khi vừa nghe tiếng bước chân Mevlut và giọng rao boza, chúng tập họp lại như lính vào đội hình chiến đấu, chúng theo dõi Mevlut và thỉnh thoảng còn gầm gừ nhe nanh. Mevlut cho thái độ hung hăng này là do không có người bán boza nào đến những đường này.
Một tối, anh nhớ lại thuở nhỏ cha dẫn anh đến căn nhà sàn lót vải dầu nằm đâu đó trong khu này để gặp ông thầy cúng nhờ tụng niệm cho anh hết sợ chó, nỗi sợ luôn làm anh cứng đờ cả người. Cha dẫn Mevlut đến thầy cúng này như dẫn đến bác sĩ. Mevlut không còn nhớ chính xác nhà ông thầy cúng già có bộ râu thậm thượt ở đâu, hẳn ông đã chết từ lâu, nhưng anh nhớ mình lắng nghe lời khuyên của thầy cúng già và anh rùng mình khi ông cầu nguyện rồi thổi vào anh, nhờ vậy mà xua được nỗi sợ chó trong lòng anh.
Mevlut hiểu rằng để làm quen với các gia đình sống trong các phường xưa này, những người kỳ kèo giá cả boza, đặt những câu hỏi vô ích để biết nó có cồn không và xem Mevlut như kẻ đáng ngờ, anh phải dành ít nhất một hai tối mỗi tuần qua phía bờ bên này của Sừng Vàng.
Hình ảnh chiếc xe trắng thường hiện về trong tâm trí Mevlut. Xe của anh có dáng vẻ và tính cách hơn xe của bất kỳ người bán hàng nào anh thấy ngoài đường. Anh không tin được là nó đã bị phá hủy không thương tiếc bằng những nhát rìu. Có lẽ người ta đã đưa nó cho một người bán cơm gà khác được ai giới thiệu và họ thấy mủi lòng cho số phận của anh ta. Kẻ nẫng đồ này có thể là gốc Rize; người ở Rize lo cho nhau.
Tối đó, không ai mua boza, không ai gọi anh. Thành phố trong những góc này như một kỷ niệm: nhà gỗ, đường sá mù mịt khói lò, tường đổ nát… Mevlut không còn biết làm sao anh đến tận đó cũng không biết chính xác mình đang ở đâu.
Một cửa sổ tòa nhà ba tầng mở, và một thanh niên xuất hiện. Boza, anh bán boza… Lên đây đi. Lên trên, người ta mời anh vào căn hộ. Khi tháo giày, anh cảm thấy trong nhà có đông người. Có ánh đèn vàng dễ chịu. Nhưng chỗ này giống một văn phòng công sở. Mevlut thấy sáu bảy người ngồi quanh hai bàn. Những người này đang bận bịu viết cái gì trước mặt, nhưng họ cũng tử tế. Họ quay lại nhìn Mevlut và như phần lớn người từ lâu không thấy người bán boza, họ nhoẻn cười.
Chúng tôi vui mừng thấy anh, người anh em bán boza, một ông già tóc bạc có gương mặt hiền hậu mỉm cười nói với Mevlut.
Mấy người kia có vẻ là học trò của ông. Kính cẩn, nghiêm túc, nhưng vui tươi. Ông tóc bạc cũng ngồi cùng bàn với học trò. Chúng tôi có bảy người, ông nói. Bán cho mỗi người một ly đi.
Có người dẫn Mevlut vào một căn bếp nhỏ. Anh cẩn thận rót đầy bảy ly boza. Có ai muốn dùng quế và đậu gà không? anh hỏi về phía phòng.
Trong tủ lạnh người học trò mở rồi đóng lại không có thức uống có cồn nào. Mevlut còn nhận ra là trong căn hộ này không có đàn bà cũng không có gia đình. Ông tóc bạc bước vào bếp.
Phải trả anh bao nhiêu? ông hỏi, và, không đợi Mevlut trả lời, ông nhìn sâu vào mắt anh. Giọng anh rất buồn, anh bán boza, tận trên này chúng tôi cũng cảm thấy nó trong lòng.
Tôi chịu một bất công ghê gớm, Mevlut nói, muốn có một cuộc nói chuyện thật lòng. Người ta tịch thu xe bán cơm gà của tôi, chắc người ta hủy nó rồi, hay có lẽ đưa cho ai khác. Một công chức gốc Rize ở tòa thị chính Şişli thiếu tôn trọng tôi, nhưng tôi không muốn làm phiền các vị với những rắc rối của tôi vào giờ này.
Kể đi, cứ kể đi, ông tóc bạc nói. Tôi buồn cho anh và tôi quan tâm nghe anh mà, cái nhìn chân thành của ông nói. Mevlut kể ông nghe rằng chiếc xe xấu số của anh đang ở đâu đó trong thành phố, tan nát trong tay người khác. Anh hiểu rằng không cần nói về những lo lắng tiền bạc của anh thì người này cũng hiểu. Nhưng cái làm anh bận lòng nhất là viên chức thành phố gốc Rize, những người có địa vị (người quan trọng, ông tóc bạc mỉa mai nói) xem khinh anh, không tôn trọng anh như anh xứng đáng. Họ ngồi đối mặt nhau trên hai ghế nhỏ trong bếp.
Con người là trái quý nhất trên cây vũ trụ, ông già tóc bạc nói với Mevlut chăm chú nghe. Ông không nói như những thầy tu lẩm bẩm cầu nguyện. Mevlut thích cách ông nhìn sâu vào mắt anh như một người bạn cũ nhưng vẫn nói với cái thông thái của một hiền triết.
Con người là sinh vật xứng đáng nhất. Không ai được làm hoen ố ngọc quý là trái tim anh ta. Nếu đó là ý thánh Allah anh sẽ tìm lại được xe… Thánh Allah phù hộ, anh sẽ tìm được.
Mevlut cảm thấy mãn nguyện là một người thông minh và quan trọng như vậy dành thời gian cho anh và bắt học trò bên trong chờ, nhưng, mặt khác, anh bứt rứt nghĩ rằng sự quan tâm của ông dành cho anh có thể do thương hại.
Học trò đang đợi thầy, thưa thầy, anh nói. Tôi không muốn lạm dụng thêm thời gian của thầy.
Cứ để họ chờ, ông già tóc bạc nói. Ông nói thêm vài lời thấm vào lòng anh: những nút thắt không thể tháo gỡ sẽ được mở theo ý thánh Allah. Mọi rắc rối đều được quyền năng của Ngài chải gỡ. Có lẽ ông muốn nói với anh thêm vài lời tử tế nhưng, thấy Mevlut nhấp nhỏm trên ghế (Mevlut liền tiếc những cử chỉ bồn chồn này), ông đứng lên và thò tay vào túi.
Thưa thầy, tôi sẽ không tính tiền thầy đâu.
Không được, thánh Allah không chấp nhận như vậy, tôi cũng không thể chấp nhận.
Bên ngưỡng cửa, họ cứ nhường nhau như những quý ông, Không, mời thầy đi trước.
Anh bán boza, cho hôm nay thôi, xin anh hãy nhận tiền này, ông nói. Lần sau anh đến, tôi sẽ không ngỏ lời trả tiền đâu, tôi hứa. Ta sẽ gặp lại nhau mỗi tối thứ Năm để trò chuyện.
Cầu xin thánh Allah ban phước cho thầy, Mevlut nói mà nghĩ bụng không biết nói vậy có đúng không. Theo bản năng, Mevlut hôn lên bàn tay nhăn nheo lấm tấm đồi mồi của người đàn ông có gương mặt sáng.
Tối đó anh về nhà muộn, hiểu rằng mình không thể kể về cuộc gặp này với Rayiha. Những ngày sau đó, Mevlut muốn nói với vợ rằng những lời của người đàn ông có gương mặt sáng suốt không rời tâm trí anh, rằng nhờ ông anh đã vượt qua được nỗi đau mất chiếc xe, nhưng anh vẫn giữ trong lòng. Rayiha có thể làm anh buồn lòng khi đáp bằng những câu mỉa mai.
Tâm trí Mevlut cứ nghĩ đến ánh đèn vàng trong căn hộ của người đàn ông tóc bạc ở Çarşamba. Anh còn thấy gì khác trong nhà này? Có những chữ xưa đẹp đẽ treo trên tường. Mevlut cũng thích bầu không khí kính cẩn của học trò ngồi nghiêm trang quanh bàn.
Trong tuần sau đó, mỗi tối đi bán boza anh cứ thấy bóng ma chiếc xe trắng khắp phố xá Istanbul. Có lần anh thấy một người gốc Rize đẩy chiếc xe trắng của anh trong hẻm quanh co ở Tepebaşı, anh đuổi theo, nhưng chưa đến thì anh đã nhận ra mình nhầm: xe của anh không thô tháp mòn vẹt như cái này, nó trang nhã hơn.
Một tối thứ Năm, khi anh đi qua các hẻm ở Fatih và ngang căn nhà ở Çarşamba mà rao Boozaa thì họ gọi và anh liền đi lên. Trong lần đến ngắn ngủi này, anh biết được một điều: học trò của ông già tóc bạc gọi ông là thầy, những người lui tới đây gọi ông là giáo trưởng; các học trò chấm bút lông vào bình mực và chép xuống những chữ to như thể đang họa; đó là các chữ Ả Rập trong kinh Koran. Trong nhà còn có những vật cổ xưa thiêng liêng khác mà Mevlut thích: một bình pha cà phê kiểu cổ; chữ thư pháp như họ viết trên bàn đóng khung treo trên tường; một cái kệ có đầu khăn đóng cẩn xà cừ; một đồng hồ đứng có hộp to tích tắc át mọi tiếng rì rầm; hình chụp lồng khung Atatürk và các nhân vật quan trọng khác, vẻ nghiêm nghị và lông mày nhíu lại như ông, nhưng để râu quai nón.
Trong cuộc nói chuyện ngắn ngủi diễn ra cũng bên bàn bếp, khi giáo trưởng hỏi về chiếc xe trắng, Mevlut đáp rằng dù vẫn quyết tâm tìm nó nhưng anh chưa tìm được, và anh vẫn chưa tìm được việc làm buổi sáng. (Anh cắt ngang ở đó để người ta không nghĩ anh đến tìm việc và nhờ vả.) Anh chỉ kịp đề cập một trong nhiều câu hỏi mà anh nghĩ đến đã mười lăm hôm nay: từ đây bước hồi lâu ngoài đường ban đêm là một nhu cầu hơn là thói quen nghề nghiệp. Ban đêm, nếu anh không ra khỏi nhà để rong ruổi ngoài đường, đầu óc anh, trí tưởng tượng, những suy ngẫm sẽ mòn vẹt đi.
Giáo trưởng nhắc anh rằng làm việc là một hành vi sùng đạo. Mong muốn bước đi đến ngày tận thế của Mevlut là dấu hiệu và hệ quả của chuyện mọi giúp đỡ chỉ đến từ thánh Allah và ta chỉ có thể hướng về Ngài để cầu xin giúp đỡ. Mevlut hiểu điều này có nghĩa là những ý nghĩ lạ thường đi qua đầu khi anh bước đi là từ Ngài mà đến, nên anh thấy không yên tâm.
Khi giáo trưởng thò tay vào túi lấy tiền trả boza cho anh (thứ Năm đó có chín học trò), Mevlut nhắc lại rằng, như họ đã thỏa thuận, lần này anh mời.
Anh tên gì? giáo trưởng hỏi giọng điệu cảm kích. Mevlut.
Tên phước đức quá! Họ bước từ bếp đến cửa. Anh là mevlidhan? giáo trưởng hỏi to để học trò nghe thấy.
Vì không biết từ này nghĩa là gì, Mevlut tỏ vẻ cho thấy, tiếc là anh không trả lời được. Các học trò ngồi quanh bàn mỉm cười sự thật thà khiêm tốn của Mevlut.
Giáo trưởng nói rằng không ai không biết mevlit là bài trường thi viết để chúc mừng Đấng tiên tri ra đời. Còn về mevlidhan, đó là cái tên rất đẹp nhưng ít ai biết đặt cho những ai soạn nhạc đệm những tụng ca này. Một ngày, nếu Mevlut sinh thằng con trai và đặt tên nó là Mevlidhan, đứa con này sẽ có một số phận tốt đẹp.
Ngoài ra từ nay họ sẽ chờ Mevlut đúng mỗi thứ Năm, và anh cũng không cần rao Boza dưới đường.
Süleyman. Vediha kể tôi nghe là Mevlut, đã bị mất xe và không biết lợi dụng gửi gắm của Vural, giờ muốn tăng tiền cho thuê căn nhà một phòng của nó ở Kültepe mà người thuê do tôi tìm được đang ở, hay ít nhất cũng có chút đỉnh tiền ứng trước. Sau đó, Mevlut gọi điện.
Nghe này, tôi nói với nó, người thuê nhà em là gã khốn khổ dân Rize, đó là người của Vural nên cũng như người nhà, mình mà nói vậy là hắn sẽ đi. Hắn sợ ông Hamit. Tiền thuê hắn trả cũng không phải không đáng kể, hắn trả mỗi tháng đúng hạn, tiền mặt sòng phẳng, bọn anh nhờ Vediha đưa cho em, em không phải trả thuế. Em nghĩ em tìm được người hơn à?
Em rất tiếc, Süleyman à, dạo này em thấy khó mà tin người gốc Rize, nên hắn phải đi.
Em đúng là chủ nhà nhẫn tâm, gã này có vợ, hắn mới có con, giờ ta sẽ đuổi họ ra đường sao?
Ở Istanbul có ai thương hại cho em không? Mevlut hỏi. Đừng hiểu sai. Được rồi, khoan đuổi ai ra đường cả.
Tất nhiên là có, bọn anh luôn thương em, lo cho em, tôi thận trọng trả lời.
Tiền thuê hằng tháng Süleyman đưa Vediha cầm đến cho họ chỉ đủ để trang trải các khoản chi tiêu trong gia đình Mevlut được một tuần. Sau cuộc nói chuyện điện thoại Mevlut có với Süleyman, khoản tiền thuê cho tháng Ba, tháng Tư và Năm trả trước mà Vediha đem đến nhiều hơn mọi khi. Mevlut không nghĩ nhiều về việc dễ dàng tăng tiền thuê nhà nói cách khác là về giúp đỡ của nhà Aktaş, của Süleyman và Korkut. Bằng tiền này, anh mua một xe kem cũ, thùng kem, xô kim loại và một máy đánh kem, anh quyết định mùa hè 1989 này sẽ đi bán kem.
Fatma và Fevziye đi theo Mevlut xuống phường bên dưới để lấy xe kem; cha con đẩy xe về nhà, cười đùa vui vẻ. Chị Reyhan hàng xóm, hiểu lầm cái vui vẻ này, ra đứng cửa sổ mừng vui vì tưởng đã tìm lại được xe cơm gà, nhưng không ai nỡ chỉnh lại chị. Trong khi Mevlut và các con sơn sửa lại xe trong sân, tin thời sự buổi tối chiếu quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh đen kịt người biểu tình. Đầu tháng Sáu, Mevlut thán phục sự can đảm của người bán hàng một mình đứng chặn xe tăng trên quảng trường. Người đứng chặn xe tăng hai tay xách hai túi này bán thứ gì? Có lẽ là cơm, như mình, Mevlut nghĩ. Nhưng người Trung Quốc không nấu cơm theo kiểu Rayiha, Mevlut đã xem trên tivi, họ không thêm đậu gà cũng không thêm gà mà nấu chín bằng hơi. Mevlut tán thưởng những người biểu tình nhưng anh cũng nghĩ không nên nổi loạn chống Nhà nước thái quá; nhất là ở những nước nghèo, nếu không có Nhà nước, sẽ không còn ai để bênh vực người nghèo và người bán hàng nhỏ lẻ. Ở Trung Quốc, người nghèo và người bán hàng sống tốt, có điều người cộng sản vô thần.
Trong bảy năm qua, từ mùa hè Mevlut bắt cóc Rayiha, các công ty lớn sản xuất sữa, chocolate và đường cạnh tranh với nhau để đặt các tủ đông trong mọi tiệm tạp hóa, tiệm bánh, quán ăn và ki-ốt thuốc lá ở Istanbul. Mỗi năm cứ đầu tháng Năm, chủ các tủ đông này lấy chúng ra để trước tiệm, nên không ai mua của người bán kem dạo nữa. Lấy cớ Mevlut làm cản trở đường sá, cảnh sát đô thị sẽ tịch thu xe và đập tan nó khi anh chỉ mới đứng dừng một chỗ năm phút, nhưng họ không nói tiếng nào về việc tủ đông các công ty lớn cung cấp gây trở ngại cho người đi trên vỉa hè. Trên tivi người ta không ngừng quảng cáo cho các thứ kem có tên lạ lùng này. Khi Mevlut đẩy xe bán kem qua các con hẻm, lũ trẻ hỏi anh, Có Flinta không chú bán kem? Chú có Rocket không?
Khi đang vui, Mevlut trả lời chúng, Kem này bay còn ngon hơn mọi Rocket của các cháu. Nhờ câu này, anh bán được dăm cây. Nhưng thường thì anh về sớm với tâm trạng không vui, và khi Rayiha xuống giúp anh như cô làm bảy năm trước, anh gắt, Mấy đứa làm gì mà còn la cà ngoài đường giờ này? rồi trong khi Rayiha đi tìm bọn nhỏ, anh cứ bỏ xe lại đó, lên nhà ủ rũ xem tivi rồi đi ngủ. Trong một khoảnh khắc chán nản này, anh thấy những con sóng lớn của một biển toàn những ý nghĩ u ám của mình tròng trành trên màn hình. Anh hốt hoảng nghĩ rằng đến mùa thu, nếu anh không tìm được một việc tốt thì sẽ không đủ tiền để mua sách vở áo quần cho các con, mua thực phẩm và gas đốt lò.
Đọc Xa lạ trong tôi
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 01 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 02 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 03 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 04 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 05 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 06 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 07 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 08 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 09 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 10 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 11 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 12 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 13 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 14 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 15 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 16 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 17 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 18 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 19 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 20 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 21 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 22 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 23 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 24 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 25 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 26 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 27 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 28 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 29 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 30 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 31 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 32 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 33 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 34 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 35 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 36 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 37 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 38 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 39 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 40 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 41 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 42 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 43 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 44 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 45 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 46 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 47 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 48 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 49 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 50 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 51 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 52 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 53 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 54 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 55 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 56 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 57 tại đây.

- thu-vien (1213)
- van-hoc (1244)
- van-hoc-nuoc-ngoai (149)
- tieu-thuyet (57)
- orhan-pamuk (58)
- xa-la-trong-toi (57)
xa-la-trong-toi-chuong-36 (1)
xa-la-trong-toi-36 (1)