Xa lạ trong tôi chương 57 kể cuộc đời người bán boza Mevlut Karataş và bức tranh Istanbul từ 1969 đến 2012 qua nhiều nhân vật. Tác phẩm của nhà văn đạt giả Noel Văn học 2009 Orhan Pamuk.
Đọc Xa lạ trong tôi chương 57
Thứ Năm, 25 tháng Mười 2012.
Hỡi ôi, dáng vẻ một thành phố.
Đổi thay nhanh hơn lòng dạ con người.
– Charles BAUDELAIRE, Thiên nga.
Chỉ khi đi bộ tôi mới suy nghĩ được; vừa dừng chân là tôi không còn suy nghĩ được nữa, đầu óc tôi chỉ đi cùng hai chân tôi.
– Jean-Jacques ROUSSEAU.,
Les Confessions.
Dáng vẻ một thành phố.
Chỉ khi đi bộ tôi mới suy nghĩ được.
Từ nay, tất cả họ sống trong cùng tòa nhà mười hai tầng có sáu mươi tám căn hộ trên đồi Kültepe. Chỉ có căn của Mevlut với Samiha là nhìn ra hướng Bắc và không có tầm nhìn. Họ ở tầng hai. Bác Hasan với dì Safiye ở tầng trệt; Korkut với Vediha ở tầng chín; Süleyman và Melahat chiếm tầng trên cùng. Thỉnh thoảng họ đụng mặt nhau trong thang máy, hay ở của nơi người gác cổng, luôn ngậm điếu thuốc trên môi, mắng lũ trẻ con chơi bóng; họ nói bông đùa mấy câu, họ làm như thể sống cùng nhau trong tòa nhà mười hai tầng là chuyện hoàn toàn tự nhiên, nhưng thật ra họ cảm thấy lúng túng.
Dù hạnh phúc, Süleyman là người khó chịu với hoàn cảnh này nhất. Vì không phải Süleyman muốn sở hữu căn hộ ở đây, trong khối D tòa nhà mười hai tầng này, có tầm nhìn ra Istanbul, mà trước mặt, ở Duttepe, trong tháp ba mươi tầng mà Hadji Hamit Vural dành tâm huyết xây những năm cuối đời. Hadji Hamit, đã hơn chín mươi, thấy mong muốn này là bình thường và chính đáng, khuyến khích, Cậu, anh trai với cha cậu cứ đến sống trong tháp của tôi!. Nhưng sau khi ông mất đột ngột hai năm trước (bộ trưởng Công trình công cộng và Nhà ở cũng đến dự đám tang), những người lãnh đạo Công ty Vural đổi giọng và gạt hai anh em nhà Aktaş ra. Süleyman rất bực và sau khi bàn với Korkut cả năm 2010, họ tìm được hai lý do: đầu tiên là một câu Korkut lỡ lời trong cuộc họp cuối năm, khi anh ta phản bác khoản tiền lót tay kinh khủng phải trả cho chính quyền để có giấy phép xây dựng, Có thật là họ nhận chừng đó? anh ta nói.
Các con trai của Hadji Hamit xem đó là nhằm vào mình, vì họ nhận thấy một ám chỉ, Các anh không đưa tiền quà cho các bộ trưởng, các anh bỏ túi. Vậy nhưng Korkut không có ngụ ý nào. Lý do thứ hai, Korkut bị gán nhãn kẻ âm mưu đảo chính quân sự vì công cuộc không có kết quả ở Baku – cái người ta cứ nhớ và nhắc lại. Cái tiếng này, được các chính phủ bảo thủ và dân tộc trước quý, làm chính quyền sau cùng khó chịu.
Nhưng lý do chính về sau họ mới biết ra, đó là cha họ đã dọa Công ty Vural, Tôi sẽ không ký bán đất nếu cả gia đình tôi không ở cùng một chỗ. Korkut và Süleyman đã cố hết sức thuyết phục bác Hasan và dì Safiye rời căn nhà cũ bốn tầng bốn mươi năm tuổi đến sống trong căn hộ, và chỉ thành công khi vạch ra là các tầng trên bị động đất làm cho càng lúc càng đổ nghiêng và xiêu vẹo.
Buổi sáng Lễ Hiến sinh năm 2012, Mevlut không thấy mặt Süleyman, Korkut hay con trai họ trong đám đông tập hợp để cầu nguyện trong thánh đường Hadji
Hamit Vural. Ngày xưa khi còn sống trên hai đồi khác nhau và phường khác nhau, họ nhất thiết gặp nhau trước lễ, họ cùng cầu nguyện rồi, chen lấn tìm lối đi qua trong đám đông, họ cùng tiến lên thảm và, cùng nhau, họ đến hôn tay Hadji Hamit.
Giờ đây, ai cũng có điện thoại di động, nhưng không ai gọi cho Mevlut, và như mỗi lần từ vài năm nay, anh cảm thấy rất đơn độc khi cầu nguyện giữa đám đàn ông tiếp đó từ sân thánh đường túa ra quảng trường và ngoài đường. Anh chào vài gương mặt quen từ thời cấp hai hay cấp ba ở Duttepe và Kültepe, những hàng xóm trong khối D là chủ quán hay chủ xe hơi, nhưng đám đông vội vàng này, cộc lốc và nôn nóng, khiến anh cảm thấy như đến cầu nguyện trong phường của người khác. Có ai trong đám thanh niên này biết rằng Hadji Hamit Vural mà người giảng kinh nhắc đến chỉ sau Atatürk bốn năm tên là một trong những người, làm việc không mệt mỏi để gây dựng nên đất nước xinh đẹp này và cho chúng ta dịp được sống như ta muốn, đã đến dự đám cưới Mevlut và Rayiha rồi tặng anh chiếc đồng hồ đeo tay?
Từ thánh đường về, Mevlut không thấy Samiha ở nhà. Chắc cô lên tầng chín, căn hộ của Vediha. Abdurrahman Vẹo cổ đến Kültepe nhân kỳ lễ và một tuần rồi ông tá túc trên tầng chín. Nó có nhiều phòng dư bên phía không có tầm nhìn; Korkut và cha vợ xoay xở tránh mặt nhau, Vediha và Samiha hầu như cả ngày ngồi xem tivi với cha. Còn Süleyman thì chắc đã chở cả nhà đi Üsküdar từ sớm để thăm gia đình vợ trong kỳ lễ. Mevlut suy ra như vậy khi không thấy chiếc Ford Mondeo của Süleyman đậu ở dưới.
Căn hộ của Mevlut ở tầng hai nhìn ra bãi xe tòa căn hộ mười hai tầng, nên giờ Mevlut có thể hiểu được nhiều về đời sống của cư dân trong tòa nhà, những cặp về hưu, những tay tư sản trẻ ăn to nói lớn, những cặp vợ chồng anh không biết làm nghề gì, những người tốt nghiệp đại học có ông ngoại nội từng bán sữa chua và trẻ con đủ độ tuổi thường trực chơi bóng trên bãi xe. Hai thằng con của Süleyman, mười sáu tuổi (Hasan) và mười bốn tuổi (Kâzım) là ồn ào nhất. Khi bóng văng khỏi bãi xe và lăn xuôi dốc, đám cầu thủ trẻ lười biếng này không đuổi theo lượm lại, chúng nhất loạt kêu, Bóng, bóng, bóng! để ai đó bên dưới đi lên lượm giúp, chuyện này làm Mevlut bực, anh là người cả đời kiếm sống bằng đôi chân.
Nhưng không một lần nào từ tám tháng sống ở đây anh mở cửa sổ ra quở trách hay tìm cách làm đám cầu thủ trẻ im miệng. Sáu ngày trên bảy, anh rời nhà lúc mười giờ rưỡi sáng để đến hội ở Mecidiyeköy; từ giữa tháng Mười đến giữa tháng Tư, buổi tối, anh đều đặn đi bán boza. Anh đến các khu vực như Şişli, Nişantaşı và Gümüşsuyu nơi có các tòa nhà cũ và giàu có bốn năm tầng trong thành phố. Anh cắt đứt hẳn với phường cũ Tarlabaşı, từ nay là một phần trong khu chỉnh trang đô thị nhằm xây các khách sạn nhỏ sang trọng, các trung tâm thương mại lớn và điểm du lịch, hầu hết các tòa nhà Hy Lạp cả trăm năm đã dọn trống.
Trong khi chờ trà buổi sáng, Mevlut nhìn con cừu bị làm thịt tế lễ trên bãi xe (anh không thấy mấy con cừu đực của Süleyman), rồi anh lật cuốn sách của giáo trưởng có nhan đề Những cuộc chuyện trò. Qua tờ báo Irşad, dán trong tủ kính một tiệm tạp hóa mà sáu tháng trước anh được biết tác phẩm này xuất bản. Anh cẩn thận sưu tầm hai mươi coupon để mua cuốn sách, ở bìa sau có bức hình đẹp của giáo trưởng thời trẻ. Mevlut tin anh phần nào là lý do có chương Ý định của trái tim và ý định của lời nói. Thỉnh thoảng anh mở sách đến mấy trang đó và chăm chú đọc.
Ngày xưa, sau buổi cầu nguyện Lễ Hiến sinh, cha anh, bác, các anh họ và anh lên lại Duttepe, vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ, họ uống trà và ăn börek dì Safiye nấu làm điểm tâm cho cả nhà. Vì lẽ giờ mọi người đã sống trong các căn hộ riêng biệt, không còn chỗ để mọi người tập họp thường xuyên như trong phòng cạnh bếp ở nhà cũ nữa. Để lưu truyền tinh thần xưa này, dì Safiye mời cả gia đình đến ăn trưa, nhưng vì cả nhà Süleyman sắp qua nhà cha Melahat, bọn trẻ thì sau khi nhận tiền lì xì cũng chán ở nhà ông bà nội nên đã đi.
Sáng lễ đó, khi Korkut cũng không có mặt, dì Safiye không tiếc lời chỉ trích những nhà phát triển bất động sản tham lam, chính trị gia dụ dỗ các con dì và dì xem như ngọn nguồn mọi cái xấu. _Bao lần dì đã nói với chúng, đợi cha mẹ chết đã rồi tụi bây đập nhà, lúc đó rồi muốn xây mấy tháp thì xây, nhưng chúng không nghe. Chúng cứ nói, mẹ à nhà này trước sau gì cũng sập vì động đất, mẹ sẽ thoải mái hơn trong căn hộ tiện nghi, nên cuối cùng dì xuôi theo. Nhưng ai mà muốn chọc gậy bánh xe con cái.
Chúng cam đoan là sẽ có mảnh vườn và cây cối trước mặt, dì chỉ cần chìa tay ra cửa sổ là hái được mận và dâu tằm. Giờ thì mận không dâu tằm cũng không; không gà con gà mẹ; không đất không vườn. Bác với dì không thể sống thiếu cây cỏ, côn trùng, cháu à. Vì vậy mà bác Hasan của cháu đổ bệnh. Sau mọi việc xây cất này, không còn một con chó con mèo lang thang ở đây. Ngoài lũ trẻ đến xin tiền lì xì trong ngày lễ, không ai bấm chuông cửa, không ai đến ăn với bác dì. Căn nhà dì yêu thích biết bao và là nơi dì đã sống bốn mươi năm trên ngọn đồi trước mặt bị đập bỏ, rồi họ xây vào đó cái tháp đồ sộ này, và dì cố lắm mới không ngồi đây nhìn mà khóc, Mevlut của dì à. Dì làm gà cho cháu đây, lấy thêm khoai tây đi, cháu thích món này mà._
Samiha cũng không bỏ qua dịp kể nhiều chuyện về những người trở nên cực kỳ khốn khổ từ khi dọn vào các khối nhà cao tầng xấu xí xây ở chỗ nhà ổ chuột của họ. Rõ ràng là thật hả dạ khi nói xấu Korkut và Süleyman trước mặt mẹ họ, cách họ xông xả vào làm ăn với nhà Vural và các dự án nhà cao tầng có Nhà nước ủng hộ. Cô nói về rắc rối của các gia đình mà, cũng như nhà Aktaş sống ba bốn mươi năm trong một căn nhà có vườn chính tay họ xây nên, đã phải dọn vào các tòa nhà mới, vì tiền hoặc do bắt buộc vì không có bằng khoán hoặc do phường họ bị xếp loại là vùng dễ bị động đất; cô kể về những bà nội trợ bị trầm cảm nặng và phải vào bệnh viện; những người phải ra đường ở vì tòa nhà của họ không xong đúng hạn; những người không tài nào trả nợ cho nhà thầu; những người tiếc đã bốc thăm trúng căn hộ xấu; về tất cả những người nhớ cây nhớ vườn của họ. Cô than là người ta phá xưởng rượu cũ, sân bóng, các tòa nhà đô thị có thời là tàu ngựa, cô than là người ta đã đốn hết cây dâu tằm. (Nhưng cô không nói ba mươi năm trước cô với Ferhat lén gặp nhau dưới những cây dâu tằm này.)
Nhưng Samiha em ơi, người nghèo không muốn sống trong khu ổ chuột bùn lầy, lạnh cóng, sưởi bằng lò nữa, họ thích một nơi sạch sẽ, hiện đại và tiện nghi hơn! Vediha bẻ lại, bênh vực chồng và Süleyman. Mevlut không ngạc nhiên chuyện đó: hai chị em gặp nhau ít nhất hai lần mỗi ngày trong căn hộ này hay kia để nói chuyện phiếm, và Vediha thường lặp lại chị hài lòng dọn vào khối D thế nào. Sau khi cùng chồng dọn vào một căn hộ riêng, Vediha cũng đồng thời thoát được nghĩa vụ nấu nướng pha trà cho cả nhà, giặt giũ, khâu vá, mạng, thuốc men, nói tắt lại là nghĩa vụ làm dâu trăm họ như thỉnh thoảng chị giận dữ nói. (Mevlut nghĩ, vì vậy mà chị nhanh chóng tăng cân mấy năm qua.) Thỉnh thoảng Vediha cũng thấy lẻ loi vì hai con trai đã lấy vợ còn Korkut về khuya, nhưng chị chưa bao giờ phải phàn nàn về cuộc sống trong căn hộ. Khi không bận tán chuyện với Samiha, chị đi Şişli thăm cháu. Sau rất nhiều nỗ lực, tìm kiếm và nhiều cố gắng không có kết quả để tìm vợ cho Bozkurt, chị cưới cho nó con gái một thợ ống nước gốc Gümüşdere ở Istanbul. Con dâu, học hết cấp hai, hòa nhã và ăn nói dễ thương, và, khi phải ra đường, cô để hai con gái cho bà nội trông. Thỉnh thoảng, họ tập họp tại nhà Turan ở Şişli có con đầu lòng được một tuổi. Những khi Vediha đi thăm cháu, thỉnh thoảng Samiha cũng theo cùng.
Mevlut thấy bực tình thân giữa cha vợ Abdurrahman Vẹo cổ và hai con gái.
Có phải vì anh ghen với tình bạn và sự gần gũi giữa họ? Hay vì Samiha cười mà kể lại cho anh những câu cay chua cha vợ nói về anh khi ông say? (Ba không hiểu nổi làm sao mà trong cả Istanbul hai đứa con gái ba không tìm được ai hợp ý hơn Mevlut, có lần ông nói.) Hay vì ông cha vợ vĩnh cửu tám mươi mới buổi trưa đã nốc rakı bắt đầu tập quen cho Vediha sau khi tập cho Samiha?
Ngoài börek truyền thống, dì Safiye còn chiên khoai tây cho các cháu nhưng chúng không đến, nên Vediha phải ăn. Mevlut gần như tin chắc ông Abdurrahman đã uống rakı bữa trưa trên căn hộ tầng chín rồi mới xuống ăn ở nhà dì Safiye và Samiha cũng làm một ly với ông cho có bạn, nhưng lúc này, anh nghi Vediha cũng uống. Trong buổi chiều, khi đến hội để chúc lễ, anh hình dung Samiha tiếp tục uống trên tầng chín với cha. Trong khi anh chúc nhau với người trong hội, trong khi anh đuổi bọn trẻ bấm chuông cửa để đòi tiền lì xì mà nói, Ở đây là hội, Mevlut có trước mắt hình ảnh Samiha nhấm nháp rakı ở nhà đợi anh. Cưới nhau được hai năm, Mevlut và Samiha bày ra một trò chơi với nhau. Đó là cách vợ chồng đối mặt với câu hỏi quyết định cả tồn tại của họ, Mấy lá thư đó viết cho ai? Những ngày mới cưới, họ bàn chuyện này nhiều đến mức nhanh chóng đi đến một thống nhất: từ lần hẹn đầu trong quán Konak, Mevlut thừa nhận đã viết những thư này cho Samiha. Lập trường chính thức và cá nhân của anh về câu hỏi này đơn giản. Anh đã gặp Samiha ở đám cưới Korkut và bị cái nhìn của cô cầm tù. Nhưng sau đó, có người chơi xỏ anh nên rốt cuộc anh lại cưới Rayiha. Mevlut không hề nuối tiếc, vì anh đã rất hạnh phúc với Rayiha. Và Mevlut không thể làm tổn thương hình ảnh những năm hạnh phúc này hay tỏ ra bất kính với ký ức về cô. Mọi điều này, Samiha chấp nhận.
Cái họ không đồng tình là sau một ly rakı, Samiha giở lá thư và hỏi Mevlut muốn nói gì khi ví đôi mắt cô với cướp chặn đường cái. Theo Samiha, loại câu hỏi này không hề làm thay đổi tinh thần thỏa thuận giữa họ, vì, Mevlut viết những lời này cho cô nên anh phải biết giải thích. Điều đó thì Mevlut công nhận nhưng anh không chịu bước vào tâm trạng những ngày anh viết các thư này.
Em không đòi anh sống lại loại tâm trạng này mà là kể em nghe anh cảm thấy gì khi viết như vậy, Samiha nói.
Mevlut nhấp rakı và cố hết sức thành thật mô tả cho vợ những cảm xúc trong lòng chàng trai hai mươi ba tuổi viết những thư này, nhưng được một lúc thì anh không làm nổi nữa.
Anh còn chẳng buồn nhắc lại cho em cái anh cảm thấy ngày đó, có lần Samiha nói với anh, nổi giận trước sự dè dặt của Mevlut.
Vì anh không còn là người viết những thư đó nữa, Mevlut đáp.
Có một khoảng im lặng, rồi thì đã rõ lý do Mevlut thành người khác không chỉ do thời gian qua, tóc anh điểm bạc, mà còn do tình yêu anh có với Rayiha. Samiha hiểu rằng cô không thể ép Mevlut có những lời tỏ tình. Thấy vợ cam chịu điều này, Mevlut cảm thấy có lỗi. Sau đó trò chơi biến thành một kiểu thông lệ thân ái. Lúc thuận tiện, một trong hai, và không chỉ Samiha, lấy xấp thư ố vàng hơn ba mươi năm ra đọc vài câu, rồi Mevlut giải thích vì sao và làm sao anh viết chúng.
Điểm cốt yếu ở đây, đó là Mevlut khi giải thích không bao giờ trở nên đa cảm quá mức và nói về người viết thư trẻ như thể đó là người khác. Bằng cách này, họ có thể đề cập đến một chủ đề tâng bốc được lòng kiêu hãnh của Samiha và nói đôi chút về tình yêu lớn Mevlut dành cho cô thời trẻ mà không bất kính với Rayiha. Mevlut thường đọc những trích đoạn thư cũ này theo kiểu hài hước và tìm hiểu nghiêm túc, vì suy cho cùng, chúng là ghi chép từ những năm tháng mãnh liệt và tươi sáng nhất đời anh, và chúng giúp anh phát hiện những nét mới trong quá khứ chung của họ.
Về nhà lúc chiều tối, anh thấy Samiha ngồi bên bàn với một ly trà. Trước mặt cô có lá thư Mevlut gửi từ quân dịch. Mevlut hiểu rằng Samiha quay lại trà vì cô đã nốc rakı, và anh thấy mừng. Trong một lá thư Mevlut gửi từ đơn vị đồn trú ở Kars, vì sao Mevlut ví mắt của Samiha với hoa thủy tiên? Mevlut thú nhận với Samiha rằng, trong giai đoạn anh ở dưới trướng tướng Turgut, một thầy dạy văn trung học đi quân dịch đã giảng giải rất nhiều về chủ đề cái nhìn. Hoa thủy tiên để chỉ đôi mắt trong văn chương xưa: thời đó, đàn bà che kín mình hơn nhiều và vì mắt họ là phần duy nhất trên cơ thể mà đàn ông thấy được, toàn bộ văn chương, bác học cũng như bình dân, dựa trên chủ đề đôi mắt. Mevlut say sưa kể lại cái thầy dạy anh cũng như các tinh tế khác nảy ra trong óc anh lúc đó. Khi ta bị cuốn hút không cưỡng được bởi cái đẹp của một đôi mắt và một gương mặt, ta không còn là mình, ta còn không biết mình đang làm gì. Lúc đó, anh không còn là mình, Mevlut nói.
Nhưng cái anh nói đó không có trong thư, Samiha đáp.
Cuốn theo cảm xúc những ký ức thời trẻ, Mevlut nhớ lại tầm quan trọng lớn lao của những lá thư viết trong quân đội. Hình ảnh chàng trai say sưa cúi mình bên những lá thư này hiện về trong tâm trí, cùng với nó là hình ảnh cô gái đẹp mà anh gửi thư. Khi anh viết những thư này trong quân dịch, gương mặt Samiha chỉ lờ mờ hiện ra. Nhưng lúc này, dần dần ký ức quá khứ sống lại, một cô gái nhỏ có gương mặt hiền lành hiện ra rõ ràng trước mắt Mevlut. Nhưng cô gái mà hình ảnh giản dị đủ làm tim Mevlut đập nhanh không phải Samiha mà là Rayiha.
Lo là vợ biết anh nghĩ về Rayiha, Mevlut ứng biến vài câu về ngôn ngữ của trái tim, vai trò của Ý ĐỊNH và SỐ MỆNH trong cuộc sống. Những diễn tả như cái nhìn bí ẩn,
mắt cầm tù Samiha đọc trong những thư này khiến Mevlut nhớ lại các họa tiết Rayiha thêu trên màn và đồ cô dâu. Samiha, đã biết những cuộc chuyện trò Mevlut có với giáo trưởng, đôi khi tìm cách giải thích cho anh rằng cuộc gặp với Mevlut không chỉ là sự tình cờ của số mệnh, mà còn là chuyện ý định. Đây là một câu chuyện Samiha thường kể trong trò chơi thư từ này. Cuối ngày Lễ Hiến sinh này, khi đêm buông, cô thêm vào câu chuyện của mình một kết cục mới có sức thuyết phục.
Theo cô, không phải ở đám cưới Korkut, vào mùa hè 1978, họ gặp nhau lần đầu tiên, mà sáu năm trước, năm 1972, khi Mevlut trượt môn tiếng Anh ở năm cuối cấp hai (Mevlut không bạo giờ kể cô nghe về cô giáo Nazlı) và phải thi lại. Mùa hè năm đó, Mevlut đi bộ mỗi ngày từ làng Cennetpınar qua Gümüşdere để học tiếng Anh với con trai người Thổ sống ở Đức. Trong khi hai cậu con trai cúi bên cuốn sách tiếng Anh, ngồi dưới cây sồi những chiều hè, Rayiha và Samiha quan sát họ từ xa, vì ở làng ai đọc sách thì thật lạ lùng. Samiha đã phát hiện từ lúc đó là chị mình để ý Mevlut, chàng trai đọc dưới cây sồi. Nhiều năm sau, khi biết qua Vediha rằng Mevlut viết thư tình cho chị, cô không dám nói với Rayiha thật ra những thư này viết về đôi mắt của cô, Samiha.
Vì sao em không nói sự thật cho Rayiha? Mevlut dè dặt hỏi. Mevlut thấy khó chịu mỗi lần nghe Samiha nói cô biết từ đầu là những thư này anh gửi cho cô. Lý do là anh tin cô nói thật. Vì nếu vậy thì nó ngụ ý là ví dù Mevlut thật sự viết thư này cho cô (nói chính xác hơn là ghi tên cô ở đầu thư), Samiha sẽ không đáp, vì cô không yêu anh. Samiha thường nhắc lại câu chuyện này khi cô cảm thấy chồng yêu mình không bằng yêu Rayiha. Samiha nhắc lại câu chuyện này ngụ ý nói với Mevlut rằng: Nếu bây giờ anh yêu em ít hơn, hãy biết rằng lúc đó em cũng yêu anh ít hơn. Sau đó, họ im lặng hồi lâu.
Vì sao em không nói cho chị ư? cuối cùng Samiha nói. Vì em cũng như mọi người thật tâm mong chị cưới và hạnh phúc với anh.
Nếu vậy em đã làm đúng, Mevlut nói. Rayiha thật sự đã có một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc với anh.
Cuộc nói chuyện đã xoay chiều nguy hiểm, họ im lặng nhưng không rời bàn. Từ đó, họ có thể thấy và nghe xe vào ra bãi lúc đêm xuống, bọn trẻ chơi bóng trong góc trống gần các thùng rác.
Ở Çukurcuma thì sẽ hay hơn, Samiha nói. Anh cũng mong là vậy, Mevlut đáp.
Họ đã quyết định rời khối D, đi khỏi Kültepe và dọn đến một căn hộ mà Samiha thừa kế của Ferhat ở Çukurcuma, nhưng họ vẫn chưa nói với ai. Đã nhiều năm rồi tiền cho thuê các căn hộ này dùng để trả cho căn hộ hiện tại. Giờ họ đã trả hết nợ và cả hai thành đồng sở hữu, Samiha tỏ ý muốn đi khỏi khối D. Mevlut biết lý do ngầm của quyết định này là do bầu không khí và cái ảm đạm của căn hộ không bằng ý muốn tránh xa nhà Aktaş.
Mevlut tính là sống ở Çukurcuma cũng không có khó khăn nào. Với tuyến xe điện mới, từ nay đi từ Taksim đến Mecidiyeköy đã dễ dàng. Hơn nữa, anh còn bán được nhiều boza ngoài đường phố Cihangir buổi tối. Cư dân trong các tòa nhà cũ ở đó vẫn còn chờ nghe người bán boza đi ngang dưới đường và gọi anh ta lên.
Trời tối hẳn thì Mevlut nhận ra ánh đèn pha xe của Süleyman chạy vào bãi. Vợ chồng lẳng lặng nhìn Melahat, Süleyman và hai thằng con xuống xe vừa nói chuyện với nhau vừa đi vào tòa nhà tay ôm đầy các gói.
Ở nhà Mevlut không có ai, Süleyman nói khi không thấy ánh đèn cửa sổ trong khi tiến đến cửa.
Họ sẽ đến mà, đừng lo, Melahat nói.
Süleyman mời cả nhà đến ăn tối. Mới đầu Samiha từ chối, nhưng Mevlut thuyết phục vợ, Đằng nào mình cũng sẽ đi khỏi đây nên thôi ta đừng làm mếch lòng ai. Mevlut ngày càng chú ý để vợ không làm xấu mối quan hệ với nhà Aktaş, Fevziye và ông Sadullah. Càng lớn tuổi anh càng sợ một mình trong thành phố.
Mevlut sống ở Istanbul đã bốn mươi ba năm. Ba mươi lăm năm đầu, anh có ấn tượng mỗi năm một gắn bó hơn với thành phố này. Nhưng những năm sau này, anh cảm thấy càng lúc càng xa lạ với Istanbul. Có phải đây là do hàng triệu người mới đổ về thành từng làn sóng không dừng được, đem theo nhà, nhà cao tầng, trung tâm thương mại? Mevlut bắt đầu thấy các tòa nhà được xây khi tới Istanbul năm 1969 bị phá hủy, không chỉ nhà ổ chuột trong các phường nghèo mà còn nhà hẳn hoi có từ bốn mươi năm ở Taksim và Şişli. Như thể cư dân các tòa nhà cũ đã hết kỳ hạn được sống trong thành phố.
Trong khi dân cư cũ này biến mất đồng thời với các tòa nhà thế hệ họ, lớp người mới đến ở trong các tòa nhà mới cao hơn, xấu xí hơn và toàn bằng bê tông. Thấy các tòa nhà ba bốn mươi tầng ấy, Mevlut cảm thấy rõ rằng mình không phải một phần của cư dân mới này.
Đồng thời Mevlut cũng thích ngắm các tòa nhà cao tầng mọc lên như nấm, không chỉ trên các đồi xa mà khắp Istanbul. Không như những khách giàu kêu ca về bất cứ cái gì mới, mỗi khi thấy một tháp mới, anh không rụt lại ghê sợ như thấy trái ủng, anh thấy đầy thán phục. Vậy thì nhìn từ trên đỉnh tòa nhà này thế giới sẽ như thế nào? Đó cũng là lý do Mevlut nóng lòng lên nhà Süleyman càng sớm càng tốt để tận hưởng toàn cảnh kỳ vĩ từ căn hộ đó.
Nhưng do Samiha cứng đầu nên họ lên tầng trên cùng sau mọi người. Từ chỗ anh được xếp ngồi ở bàn, Mevlut không thấy khung cảnh mà chỉ thấy cái tủ cupboard có gương một xe bán tải giao đến cho Melahat ba tháng trước. Bọn trẻ đã ăn tối xong từ lâu và biến đi. Quanh bàn, ngoài Korkut và Vediha, Süleyman và Melahat, Mevlut và Samiha còn có ông Abdurrahman, ngồi im không nói tiếng nào. Dì Safiye không đến, viện cớ tình trạng sức khỏe kém của bác Hasan. Korkut và Süleyman đưa cha đi khắp các bác sĩ mà họ không hiểu rõ lắm ông bị gì, họ làm nhiều xét nghiệm và kiểm tra. Bác Hasan đâm chán các bác sĩ, bác không muốn thấy họ nữa, không muốn rời phòng hay rời giường nữa. Chỗ đầu tiên mà ông muốn đến khi ông ra khỏi tòa nhà mười hai tầng ông không thích và không chịu cho xây, đó không phải bệnh viện mà tiệm tạp hóa của ông, nó thường trực xâm chiếm những ý nghĩ của ông và vì nó ông cảm thấy lo. Mevlut chưa gì đã nhận định rằng, đằng sau tiệm tạp hóa cũ vẫn trông hệt như bốn mươi năm trước (trên mảnh đất lớn mà bác Hasan tự chiếm bốn mươi lăm năm trước), người ta có thể xây một tòa nhà tám tầng với năm căn hộ mỗi tầng.
Họ ăn mà không nói gì khi xem tivi (tổng thống nước Cộng hòa đã dự buổi cầu nguyện Lễ Hiến sinh ở Istanbul, trong thánh đường Süleymaniye). Dẫu bác Hasan ở dưới, chai rakı cũng không được dọn ra bàn. Chốc chốc Korkut và Süleyman lại đứng lên để uống một ly trong bếp.
Mevlut cũng muốn một ly rakı. Không phải anh đã thành như mấy ông lớn tuổi mà, càng già càng năng đến thánh đường và càng uống nhiều rakı; Mevlut uống ít. Nhưng cái Samiha nói với anh lúc nãy khi họ ngồi trong tối dưới lầu làm anh đau lòng, và anh biết rằng một rakı sẽ làm anh khuây khỏa.
Melahat, vẫn luôn chu đáo, đi theo Mevlut vào bếp. Rakı trong tủ lạnh, cô nói. Samiha theo vào ngay, một chút rụt rè.
Cho em nữa… cô cười mà nói.
Không, không phải ly đó, lấy ly này, hai người cần đá viên không? Melahat hỏi với cái tốt bụng và lịch sự luôn làm Mevlut nể. Chính giữa tủ lạnh để mở,
Mevlut thấy những miếng thịt trong một tô nhựa xanh lá.
Süleyman, thánh Allah phù hộ cho anh, hôm nay cho giết thịt hai con cừu đực, Melahat nói. Chúng tôi đã phân phát cho người nghèo nhưng vẫn còn. Tủ lạnh chúng tôi bỏ không vừa nữa. Chúng tôi đã đem xuống tủ lạnh của Vediha và của mẹ nhưng vẫn còn. Còn một tô đầy trên ban công, hai người cất trong tủ lạnh của mình được không?
Süleyman đã dẫn về hai con cừu đực ba tuần trước, anh ta cột chúng trong một góc bãi xe gần căn hộ của Mevlut, những ngày đầu, anh ta lo cho chúng và đặt rơm trước mặt, nhưng chẳng mấy chốc anh ta quên bẵng, hệt như Mevlut. Thỉnh thoảng, quả bóng bọn trẻ đá đập trúng một con, những con vật tội nghiệp bị cột hoảng sợ và đá tứ phía, một đám mây bụi tung lên, và đám nhóc cười. Một lần, Mevlut xuống bãi đỗ xe, anh nhìn sâu vào mắt con cừu đực giờ đã bị chặt miếng, cất trong chậu nhựa chia ra bốn tủ lạnh và chia cho người nghèo, và anh buồn bã nhớ lại hai mươi ngàn con cừu chìm dưới đáy Bosphore.
Tất nhiên, chị cứ cất trong tủ lạnh nhà bọn em, Samiha nói. Nhưng theo vẻ mặt của Mevlut, giờ đã dịu lại nhờ vài ngụm rakı, cô hiểu rằng anh không hề thích ý này.
Thịt tươi có mùi khiếp lắm, Melahat nói. Süleyman sẽ đi phân phát cho nhân viên công ty nhưng… hai người có quen người nghèo nào khác để cho không?
Mevlut nghiêm túc nghĩ chuyện này: trên đồi đối diện Kültepe và các đồi khác, tầng lớp người mới đến sống trong các gecekondu cũ bỏ không sau cơn sốt xây nhà cao tầng và các chủ sở hữu cũ đang kiện tụng nhau hay kiện nhà nước về các điều khoản trong bằng khoán chủ tịch phường lập. Nhưng lớp người nghèo mới đến sống chủ yếu trong các phường xa thành phố hơn, quá vành đai thứ hai, nơi mà Mevlut còn chưa bao giờ đặt chân đến. Những người này vào trung tâm thành phố kéo theo những bao khổng lồ để bới rác. Thành phố đã mở rộng, trải dài đến mức mà ngay cả đi xe cũng không thể đến các khu ngoại ô này và về trong ngày. Cái làm Mevlut ngạc nhiên hơn nữa, đó là các tòa nhà chọc trời kỳ quái đã mọc lên từ những phường này như bóng ma, cao đến mức còn thấy rõ từ bên kia bờ Istanbul. Mevlut cũng rất thích ngắm chúng từ xa.
Mới đầu, ngồi trong phòng ăn, Mevlut không được nhìn toàn cảnh như anh mong, vì anh phải quan tâm đến câu chuyện Süleyman kể: hai tháng trước khi các căn hộ thuộc phần mẹ và các chị của Mevlut bán, các anh rể của anh, cả hai cũng đã sáu mươi và hầu như chưa bao giờ bước chân ra khỏi làng, đến Istanbul và họ trọ năm ngày ở nhà dì Safiye (vừa là dì vừa là bác của vợ họ). Süleyman lấy xe Ford chở họ đi tham quan thành phố nên giờ, sau lưng họ, anh ta chế giễu kể rất nhiều giai thoại về vẻ mặt sửng sốt của họ trước các tòa nhà chọc trời, cầu, thánh đường lâu đời và trung tâm thương mại ở Istanbul. Đỉnh điểm của những chuyện kể này, đó là hình ảnh hai ông anh rể già không chịu rời cái vali tiền bán họ nhận được – bằng đô la mà không qua ngân hàng, như thiên hạ làm để trốn thuế. Süleyman đứng lên khỏi bàn và, khom lưng, anh ta bắt chước hai anh rể bước đến xe đò đưa họ về làng ôm khư khư vali đầy nhóc tiền. Rồi anh ta nói, Ôi, Mevlut, không có em mọi người biết làm sao! ai cũng quay qua anh ta cười, Mevlut thấy tâm trạng vui vẻ tan biến.
Trong cái cười của họ có gì đó cho thấy họ nghĩ Mevlut cũng khờ khạo trẻ con như hai anh rể già. Không phải vì họ xem anh vẫn còn là người nhà quê, mà vì đến lúc anh có thể, bằng một mánh lới hành chính, thành chủ sở hữu các căn hộ mà hai anh rể vừa nhận tiền, chỉ nghe theo tính trung thực của mình, anh đã khước từ cơ hội này. Hai anh rể chu đáo (họ mang lên cho Mevlut bằng khoán phần chia mảnh đất nhỏ ở làng thừa kế của cha); họ sẽ không để bị bóc lột. Mevlut chán nản nghĩ là nếu ba năm trước anh chịu sửa giấy của chủ tịch phường như bác Hasan đề nghị, hôm nay anh đã sở hữu ngay căn hộ này và không phải đi làm nữa ở độ tuổi ngoài năm mươi.
Mevlut đăm chiêu một lúc. Anh cố tự thuyết phục rằng anh không để bụng chuyện Samiha làm anh đau lòng nữa: vợ anh vẫn còn đẹp, năng động và rất thông minh so với vợ người khác, già, béo ịch và tàn tạ. Ngày mai họ sẽ cùng đi Kadırga thăm cháu. Anh thậm chí đã làm hòa với Fatma. Anh có một cuộc sống đẹp, đáng mong hơn rất nhiều người khác. Anh phải hạnh phúc. Vả lại, anh hạnh phúc mà, đúng không? Lúc Melahat mang baklava hạt hồ trăn ra, Mevlut bỗng nhỏm dậy. Em cũng rất muốn ngắm một chút cảnh này, anh nói và xoay ghế.
Tất nhiên, với điều kiện em có thể thấy cái gì khác ngoài tòa tháp, Korkut đáp.
Trời đất, bọn anh để em ngồi không đúng chỗ rồi, Süleyman nói.
Mevlut lấy ghế ra ngồi ngoài ban công. Độ cao và cái bao la của quang cảnh trước mắt làm anh chóng mặt một lát. Tháp Korkut nhắc là tòa nhà ba mươi tầng mà Hadji Hamit Vural đã dành trọn năm năm cuối đời làm ngày làm đêm và không tiếc tiền của để nó ngày một cao hơn, như ông đã làm với thánh đường ở Duttepe. Tiếc là nó không thành một trong những tòa nhà chọc trời cao nhất Istanbul như ông mong. Nhưng từ THÁP gắn ở đó bằng tiếng Anh như trên đa số tòa nhà chọc trời ở Istanbul (dù không cái nào có người Anh hay người Mỹ sống).
Đó là lần thứ ba Mevlut lên nhà Süleyman và ngắm cảnh từ tầng này. Cả hai lần trước, Mevlut không nhận thấy THÁP HADJI HAMIT VURAL che choán tầm nhìn. Công ty Vural muốn chờ bán hết căn hộ trong tòa nhà mười hai tầng ở Kültepe rồi mới xây tháp Hadji Hamit này ở Duttepe chắn tầm nhìn của họ.
Mevlut nhận ra mình đang nhìn thành phố từ chính góc độ anh có trên đỉnh đồi cha dẫn anh tới khi anh đến Kültepe. Từ chỗ này, bốn mươi năm trước, ta thấy nhà máy, các đồi xung quanh nhanh chóng phủ kín khu ổ chuột, từ dưới lên trên. Lúc này, Mevlut chỉ thấy một biển tòa căn hộ cao thấp khác nhau. Những đỉnh đồi ngày xưa phân biệt được rõ nhờ những cột điện lớn giờ biến mất dưới hàng ngàn căn hộ và tòa tháp, tương tự các con lạch cũ trong thành phố ta đã quên khi bị phủ kín đường sá và bê tông. Mevlut chỉ còn lờ mờ đoán, Ở đây, đây chắc là Oktepe, chỗ kia chắc hẳn là các tháp thánh đường Harmantepe.
Giờ đây trước mặt Mevlut là một bức tường cửa sổ bao la. Sức mạnh của thành phố, tính duy vật đáng sợ của nó, cái tàn bạo của nó làm anh có cảm giác như bức tường kiên cố không thể xuyên thủng. Hàng trăm ngàn cửa sổ trên bức tường này như biết bao con mắt đang quan sát Mevlut. Âm u vào buổi sáng, những con mắt đổi màu suốt cả ngày. Buổi tối, như Mevlut có thể nhận thấy ở giờ phút này, chúng sáng một thứ ánh sáng biến đêm buông trên thành phố thành ánh sáng ban ngày. Thuở nhỏ, Mevlut rất thích nhìn ánh đèn thành phố từ xa. Nó có gì đó mê hoặc. Nhưng anh chưa bao giờ ngắm Istanbul từ trên cao như vậy. Nó vừa đẹp vừa đáng sợ. Mevlut vừa sợ vừa muốn nhảy vào rừng rậm những tòa nhà nhấp nháy những ánh mắt này, dù giờ anh đã năm mươi lăm.
Nhưng ai ngắm từ xa một khung cảnh thành thị thì cuối cùng đều dần dà phát hiện chuyển động dưới chân các tòa nhà, một kiểu rung động trên các đồi. Các nhà máy sản xuất dược phẩm, bóng đèn và các nhà máy khác có từ bốn mươi năm đã bị san bằng và bị những tòa tháp đáng sợ đủ mọi thể loại với trung tâm thương mại ở bên dưới này thế chỗ. Bên kia tấm màn bê tông tạo bởi bao tòa nhà cao tầng mới này, ta còn nhìn ra bóng dáng Istanbul xưa tồn tại trước khi Mevlut đến. Những tòa tháp trắng đây đó mọc lên từ cái bóng âm u này. Nhưng cái làm Mevlut ấn tượng nhất, đó là một biển các tòa nhà chọc trời, những tháp mọc lên còn xa hơn các tòa nhà này nữa. Một số xa đến mức Mevlut không biết chúng nằm trên bờ châu Á hay ở đây, bờ Âu châu.
Ban đêm, các tòa nhà cao tầng này sáng như thánh đường Süleymaniye, tạo thành một vầng hào quang trên thành phố, vàng mật hay vàng mù tạt. Những đêm mây sà thấp, chúng hắt ánh sáng vàng chanh của thành phố, trông như những ngọn đèn kỳ lạ soi trên thành phố. Giữa chằng chịt ánh đèn này, chỉ nhờ ánh đèn chiếu nhấp nháy của một con tàu đi qua ở đường chân trời (hay ánh đèn máy bay) ta mới nhìn ra Bosphore.
Mevlut cảm thấy ánh sáng và bóng tối ngụ trong anh có gì như khung cảnh thành thị về đêm. Có lẽ vì lý do này mà từ bốn mươi năm nay ban đêm anh ra đường để bán boza, dù nó đem lại ít ỏi.
Phút này Mevlut hiểu ra sự thật mà một phần trong anh đã biết từ bốn mươi năm qua nhưng không ý thức được: đi lang thang ngoài đường phố ban đêm cho anh ấn tượng đi dạo trong chính đầu óc mình. Vì vậy mà trò chuyện với những bức tường, áp phích quảng cáo, những bóng tối, những thứ lạ thường và bí ẩn mà anh không tài nào nhìn ra trong tối khiến anh thấy như nói chuyện với chính mình. Có chuyện gì vậy? Em nhìn gì như vậy? Süleyman hỏi khi ra ngồi với anh ngoài ban công. Em tìm gì à?
Không có gì, em chỉ nhìn vậy thôi.
Đẹp mà, đúng không? Nhưng có vẻ như em sẽ bỏ mọi người mà qua Çukurcuma?
Khi vào lại phòng ăn, Mevlut thấy Samiha dìu cha đến cửa. Những năm qua đã trở nên khá già lão, cha vợ anh không ưa nói lắm và, sau hai ly rakı, ông vẫn tử tế ngồi bên các con gái như một đứa trẻ ngoan ngoãn. Mevlut ngạc nhiên là ông vẫn có thể một mình rời làng và bắt xe đò lên Istanbul.
Ba thấy không khỏe, ba với em về đây, Samiha nói. Anh cũng về, Mevlut nói.
Samiha và cha đã đứng ngoài cửa.
Mevlut, vậy là em bỏ bọn anh lại? Korkut hỏi.
Thiên hạ thích uống boza một tối lễ trời lạnh, Mevlut đáp.
Không phải, anh không nói tối nay. Ý anh là nhà em dọn khỏi đây và đến sống ở Çukurcuma. Vì Mevlut không đáp, Korkut nói thêm, Em sẽ không nỡ bỏ bọn anh lại mà đi.
Em sẽ đi, vậy thôi, Mevlut đáp.
Trong thang máy luôn vẳng tiếng nhạc, Mevlut buồn khi thấy cha vợ mệt mỏi, câm nín và hom hem. Nhưng anh giận Samiha; về đến nhà, Mevlut lấy đồ nghề bán boza rồi, không một lời với vợ, anh vui sướng và hấp tấp bỏ ra đường.
Nửa giờ sau, anh đã đến những con hẻm ở Feriköy và anh lạc quan cảm thấy rằng tối nay đường phố rất có thể sẽ trò chuyện với anh. Lòng anh tan nát vì Samiha nhắc anh là có thời cô không yêu anh. Trong những khoảnh khắc buồn khổ này, khi những thiếu sót, sai sót trong đời anh bắt đầu dâng lên và trong anh tràn ngập cảm giác có lỗi, ký ức về Rayiha bỗng hiện về trong óc anh.
Boozaa… Mevlut rao về phía những con phố vắng.
Dạo này mỗi lần nằm mơ thấy Rayiha, anh luôn đối mặt một vấn đề: Rayiha chờ Mevlut trong một konak bằng gỗ cũ mênh mông, nhưng, bất chấp mọi con đường anh đi qua, mọi cửa anh mở, Mevlut không làm sao tìm thấy cánh cửa vào căn nhà Rayiha ở và anh cứ đi lòng vòng cũng những đường ấy. Rồi anh nhận ra rằng những đường mình vừa đi qua biến đổi và, để tìm thấy cánh cửa, anh cần đi vào những đường mới này, vậy là anh tiếp tục hành trình dài bất tận. Có những tối đi qua những đường vắng vẻ để bán boza, Mevlut không tài nào biết cảnh đó là trong mơ hay lúc đó anh đang ở trên đường đó thật.
Boozaa…
Từ nhỏ cho đến lúc niên thiếu, Mevlut vẫn tin những thứ kỳ bí anh thấy khi bước ngoài đường xuất phát từ trí óc anh. Thời đó anh đã cố tình tưởng tượng ra mọi thứ này. Những năm tiếp theo, anh có cảm giác như những ý nghĩ và giấc mơ này do một ngoại lực đặt vào đầu anh. Và những năm qua, Mevlut đã không còn phân biệt nổi giữa những giấc mơ trong anh với cái anh thấy ngoài đường: như thể mọi cái này có cùng chất liệu. Một cảm giác dễ chịu mà ly rakı uống ở nhà Süleyman góp phần nuôi dưỡng.
Nói cách khác, sự hiện diện của Rayiha trong tòa nhà gỗ trên những con đường này đang đợi Mevlut có thể là ảo ảnh mà cũng có thể là thực tại. Cũng như con mắt trên cao dõi theo anh từ bốn mươi năm nay khi anh đi trên những đường này ban đêm; nó có thể thực sự tồn tại, hay chỉ là một ảo giác thoáng qua mà cuối cùng Mevlut lại tin mãi mãi. Những tòa nhà chọc trời Mevlut thấy xa xa từ ban công nhà Süleyman giống với bia mộ trong hình minh họa báo Irşad rất có thể chỉ là một mơ màng của anh. Cũng giống như ấn tượng rằng thời gian trôi nhanh hơn từ khi hai cha con tên cướp trấn lột của anh chiếc đồng hồ mười tám năm trước…
Mevlut biết rằng khi anh cất tiếng rao Boozaa, những cảm xúc trong anh truyền qua những người ở trong các nhà anh đi qua, nhưng đồng thời anh cũng nhận ra đây chỉ là một giấc mơ êm đềm. Có lẽ đúng là còn tồn tại một thế giới nữa ẩn giấu trong lòng thế giới này và chỉ khi anh để con người thứ hai sâu kín trong anh lộ ra thì cuối cùng anh, nhờ bước đi và suy nghĩ, mới đến được thế giới tưởng tượng này. Mevlut không chịu chọn một trong hai thế giới. Cái nhìn công khai của anh đúng, và cái nhìn riêng tư cũng vậy; ý định của trái tim đúng, ý định của lời nói cũng vậy… Cái này nghĩa là mọi chữ ghi trên áp phích quảng cáo, báo dán trong tủ kính quán tạp hóa, và những câu trên tường bấy lâu nay vẫn nói sự thật với Mevlut. Thành phố gửi cho anh những tín hiệu chữ nghĩa này suốt bốn mươi năm qua. Mevlut cảm thấy như ngày còn nhỏ cái nhu cầu đáp lại những gì thành phố nói với anh. Giống như thể giờ đến lượt anh cất lời. Mevlut muốn nói gì với thành phố đây?
Mevlut chưa nghĩ ra, dù anh đã quyết định sẽ tuyên bố nó như một khẩu hiệu chính trị. Có lẽ cái anh định viết trên tường như anh làm thời trẻ lúc đi dán áp phích chính trị, không phải cái nhìn chính thức mà là cái nhìn cá nhân. Hay là, nó phải là cái gì trung thành với cả hai.
Boozaa…
Anh bán boza, chờ đã anh bán boza…
Một cánh cửa sổ mở ra, Mevlut nở nụ cười ngạc nhiên: một giỏ đi chợ nhanh chóng hạ xuống trong tối đến chỗ anh như thời xưa.
Anh bán boza, anh biết bỏ boza vào giỏ không đó?
Biết chứ.
Nói chưa dứt, Mevlut rót đầy boza vào bình thủy tinh trong giỏ, lấy tiền rồi đi tiếp, hăm hở ngẫm xem ý nghĩ nào anh muốn được nói với thành phố.
Những năm gần đây, Mevlut sợ già đi, sợ chết, sợ chìm trong lãng quên và biến mất. Anh chưa bao giờ làm hại ai, anh luôn cố gắng làm người tốt; và anh tin rằng nếu không phạm lỗi nào đến cuối đời, anh sẽ lên thiên đường. Nhưng dạo này nỗi sợ đã sống vô ích và bị lãng quên, một nỗi sợ không bao giờ lướt qua anh thời trẻ, bắt đầu gặm nhấm anh, bất chấp bao năm anh còn để sống với Samiha. Và Mevlut không biết nói gì với thành phố về đề tài này.
Anh đi dọc bức tường nghĩa trang Feriköy. Ngày xưa, do thôi thúc của thứ xa lạ này trong anh, anh bước vào đó, dù vô cùng sợ người chết và nghĩa trang. Lúc này anh đã đỡ sợ mộ bia và sọ người, nhưng, vì điều này đưa đẩy anh nghĩ đến cái chết của mình, anh cẩn thận tránh vào ngay cả các nghĩa trang xưa đẹp đẽ. Tuy vậy, do một phản xạ trẻ con, anh nhìn qua một góc tường thấp vào bên trong thì bỗng khiếp sợ khi thấy cái gì lay động với tiếng xào xạc.
Đó là một con chó mực, rồi liền có thêm con thứ hai, rồi cả hai biến trong sâu thẳm âm u nghĩa trang. Mevlut quay người cất bước thật nhanh về hướng ngược lại. Không có gì phải sợ. Tối lễ này, đường sá đông người mặc đẹp, tươi cười và tốt bụng. Một người đàn ông trạc tuổi anh mở cửa sổ, gọi anh rồi mang xuống một bình mà Mevlut đổ vào hai ký boza, rồi, tìm lại được tâm trạng vui vẻ, anh quên lũ chó.
Nhưng mười phút sau lũ chó bao vây anh hai đường phía dưới. Lúc nhận ra chúng thì Mevlut hiểu rằng hai con trong bọn đã theo sát gót anh, rằng anh không thể thối lui và thoát chúng. Anh cảm thấy tim đập nhanh và không nhớ được câu cầu khấn thầy cúng cha dẫn anh tới gặp đã dạy, cũng như những khuyên giải giáo trưởng không tiếc cho anh.
Mevlut rón rén đi ngang qua chúng nhưng lũ chó không nhe răng với anh, chúng không có vẻ đe dọa. Không con nào ngửi ngửi Mevlut. Phần lớn tỏ ra hoàn toàn dửng dưng với anh. Mevlut thấy nhẹ nhõm vô cùng; anh biết rằng đó là một tín hiệu rất tốt. Anh cảm thấy có nhu cầu nói chuyện, làm thân với ai đó. Lũ chó mến anh.
Sau khi bán cho nhiều khách tốt bụng và sẵn lòng, đi thêm ba con phố và một phường nữa, anh ngạc nhiên nhận thấy boza gần hết thì nghe cửa sổ trên tầng ba một tòa nhà mở và giọng đàn ông gọi, Anh bán boza, lên đây đi.
Hai phút sau Mevlut đã ở bên cửa nhà họ trên tầng ba tòa nhà không thang máy này. Người ta mời anh vào. Mevlut ngửi thấy mùi rakı nồng lơ lửng trong không khí ẩm ướt giống như thời người ta không mở cửa sổ và vặn nhỏ lò sưởi. Nhưng bên trong ngự trị một không khí gia đình, hội hè và thân thiện, không phải bàn ăn của đám người say sưa cãi cọ. Anh thấy các bà dì trìu mến, các ông cha khôn ngoan biết điều, các bà mẹ liến thoắng, các cụ ông, các cụ bà và cả bầy con nít. Trong khi cha mẹ ngồi nói chuyện bên bàn, bọn trẻ không ngừng chạy quanh bàn, trốn dưới bàn, gọi nhau và la hét. Mevlut vui thấy họ hạnh phúc như vậy. Con người sinh ra để hạnh phúc, thẳng thắn và trung thực. Và hơi ấm con người này, Mevlut thấy nó trong ánh đèn cam từ phòng khách. Dưới cái nhìn chăm chú của bầy trẻ, Mevlut chia năm ký boza ngon nhất mình có vào ly. Rồi, một chị chủ thanh lịch trạc tuổi anh tách khỏi đám người và đi vào bếp. Chị thoa son, đầu để trần và có đôi mắt to đen.
Cảm ơn anh đã lên đây, anh bán boza, chị nói. Tôi thấy vui khi nghe giọng anh ngoài đường. Nó làm tôi cảm động. Thật hay là anh bán boza. Tôi mừng là anh không nghĩ, Ai mà mua boza nữa?
Mevlut đã ra cửa. Anh toan đi nhưng liền chậm bước lại.
Tôi sẽ không bao giờ nghĩ vậy, anh đáp. Tôi bán boza vì đó là cái tôi muốn làm.
Đừng bao giờ bỏ cuộc, anh bán boza. Đừng bao giờ nghĩ bụng không ích gì mà gắng gỏi giữa những tòa tháp và bê tông này. Hãy tiếp tục đi ngoài đường.
Tôi sẽ bán boza cho đến ngày cuối đời, Mevlut nói.
Người đàn bà đưa anh nhiều tiền hơn giá năm ký boza. Chị làm cử chỉ muốn nói là chị không lấy tiền thối, rằng đó là tiền quà ngày lễ. Mevlut đi ra không tiếng động, anh xuống cầu thang; trước cổng, anh lại quảy gánh lên vai và mắc thùng vào.
Boozaa… anh rao khi lại ra đường. Anh đi về phía Sừng Vàng và, trong khi xuống một con đường dài có vẻ cứ chạy mải miết đến vô tận, anh nhớ lại khung cảnh đã thấy từ ban công nhà Süleyman. Cái anh muốn nói với thành phố, cái anh muốn viết lên tường vừa hiện ra trong anh. Đó là cái nhìn vừa công khai vừa cá nhân; ý định của trái tim anh và lời nói anh.
Mình yêu Rayiha hơn mọi thứ trên đời này, Mevlut nói một mình.
Đọc Xa lạ trong tôi
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 01 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 02 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 03 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 04 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 05 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 06 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 07 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 08 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 09 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 10 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 11 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 12 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 13 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 14 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 15 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 16 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 17 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 18 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 19 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 20 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 21 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 22 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 23 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 24 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 25 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 26 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 27 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 28 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 29 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 30 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 31 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 32 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 33 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 34 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 35 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 36 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 37 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 38 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 39 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 40 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 41 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 42 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 43 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 44 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 45 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 46 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 47 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 48 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 49 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 50 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 51 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 52 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 53 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 54 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 55 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 56 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 57 tại đây.

- thu-vien (1213)
- van-hoc (1244)
- van-hoc-nuoc-ngoai (149)
- tieu-thuyet (57)
- orhan-pamuk (58)
- xa-la-trong-toi (57)
xa-la-trong-toi-chuong-57 (1)
xa-la-trong-toi-57 (1)