Xa lạ trong tôi chương 40 kể cuộc đời người bán boza Mevlut Karataş và bức tranh Istanbul từ 1969 đến 2012 qua nhiều nhân vật. Tác phẩm của nhà văn đạt giả Noel Văn học 2009 Orhan Pamuk.
Đọc Xa lạ trong tôi chương 40
Tháng Ba 1994 – tháng Chín 2002.
Trên thiên đường, ý định của trái tim và ý định của lời nói chỉ là một.
İbni ZERHANI, Những đạo lý của bí ẩn đã mất.
Quán boza Anh em cọc chèo.
Một việc danh dự và yêu nước.
Câu chuyện của chúng ta quay lại điểm xuất phát, nên tôi muốn khuyên độc giả đọc lại phần hai cuốn tiểu thuyết. Đêm thứ Tư ngày 30 tháng Ba 1994, bị chó tấn công và bị trấn lột đồng hồ Hadji Hamit Vural tặng làm quà cưới mười hai năm trước đã khiến Mevlut chấn động mạnh. Ngày hôm sau, nói với Rayiha khi Fatma và Fevziye đi học rồi, Mevlut một lần nữa nghĩ rằng quyết định dừng bán boza là đúng. Anh không thể bước ngoài đường tối với nỗi sợ chó trong lòng như vậy.
Mặt khác, anh tự hỏi phải chăng bị trộm và chó tấn công trong cùng một tối là tình cờ. Nếu anh bị cướp tấn công trước rồi sau đó đến chó, anh có thể hợp lý nói, Mình sợ khi bị cướp hành hung, lũ chó đánh hơi thấy mùi sợ nên tấn công mình. Vậy nhưng lũ chó tấn công anh trước, và hai giờ sau anh mới bị trấn lột. Khi cố thiết lập mối liên hệ giữa hai sự kiện này, Mevlut nhớ lại một bài anh từng đọc ở thư viện trường. Bài viết trong một số tạp chí cũ Tinh thần và vật chất bàn về khả năng chó đọc được suy nghĩ của người. Mevlut sớm hiểu là anh sẽ khó mà nhớ chi tiết bài này nên anh không nghĩ đến nữa.
Rayiha. Lúc Mevlut nghỉ bán boza do sợ chó, ngay khi có dịp tôi đi Duttepe gặp Vediha.
Sau chuyện xảy ra ở quán, nhà chị giận Mevlut, giờ họ sẽ không giúp anh ta tìm việc nào sớm đâu, Vediha nói.
Mevlut cũng giận họ, tôi đáp. Nhưng không phải em nghĩ đến họ mà đến Ferhat. Hình như anh ta kiếm được rất nhiều tiền ở Sở điện lực. Anh ta sẽ tìm được một việc cho Mevlut. Nhưng nếu Ferhat không mở lời thì Mevlut sẽ không bao giờ hạ mình hỏi anh ta gì đâu.
Tại sao mới được?
Chị biết rõ tại sao mà…
Vediha nhìn với ngụ ý rằng chị hiểu.
Xin chị Vediha, chị sẽ biết lựa lời nói với Samiha và Ferhat, tôi nói. Ferhat với Mevlut là bạn rất thân. Nếu Ferhat muốn khoe mọi thứ anh ta kiếm được như vậy, anh ta chỉ cần giúp bạn cũ một tay.
Ngày còn nhỏ, em với Samiha cứ hùa nhau chống chị mà, Vediha đáp. Nhưng giờ, chính chị phải dàn hòa các em.
Giữa Samiha và em không có vấn đề nào cả. Vấn đề là sự tự phụ của đàn ông.
Họ không gọi đó là tự phụ đâu, mà danh dự, Vediha nói. Và lúc đó họ đâm xấu xa.
Một tuần sau, Rayiha thông báo với chồng là họ được mời, là Chủ nhật hai vợ chồng sẽ dẫn các con đến nhà Ferhat và Samiha, và Samiha sẽ làm kebab theo kiểu Beyşehir. Cái em gọi là kebab kiểu Beyşehir, đó là bánh mì dẹt trên có thịt và quả óc chó, Mevlut nói. Cũng hai mươi năm rồi anh chưa ăn lại. Là để ăn mừng gì vậy?
Cũng mười năm rồi anh chưa gặp lại Ferhat! Rayiha nói. Mevlut đang thất nghiệp: sau khi bị cướp, anh thu mình hòn lẫy và trở nên dễ tự ái hơn. Buổi sáng, anh đi tìm một công việc phù hợp trong các nhà hàng và quán ăn ở Tarlabaşı và Beyoğlu, nhưng anh làm uể oải và giận dữ.
Sáng Chủ nhật trời nắng, họ bắt xe bus thành phố ở Taksim, trên xe không có mấy hành khách, không kể dăm ba người cũng như họ đi thăm bà con ở đầu kia thành phố. Khi nghe Mevlut kể cho Fatma và Fevziye về chú Ferhat bạn thuở nhỏ là người vui tính thế nào, Rayiha nhẹ nhõm.
Và nhờ các con gái, khoảnh khắc gặp lại Samiha và Ferhat mà Mevlut tránh né đã mười năm nay diễn ra dễ dàng không chút ngượng nghịu nào. Sau khi hai người bạn ôm hôn nhau, Ferhat bé Fevziye rồi tất cả cùng đi ra xem mảnh đất anh ta đã vạch ranh mười lăm năm trước bằng đá trắng, như thể họ thăm một mảnh đất sắp cất nhà.
Hai cô gái mê mẩn cánh rừng ở rìa thành phố, bóng Istanbul xa xa chìm trong sương mù, những mảnh vườn có gà mái cục tác, gà con và chó đi loanh quanh; chúng không ngừng chạy tứ tung. Mevlut ngẫm rằng Fatma và Fevziye, sinh và lớn lên ở Tarlabaşı, cả đời chưa bao giờ thấy những cánh đồng có mùi phân chuồng, nhà thôn quê cũng như vườn cây ăn quả. Anh thấy vui là các con tò mò nhìn mỗi thứ, cây cối, cái tời ở giếng, ống nước tưới cây, một con lừa già mệt mỏi, hay những tấm tôn và rào sắt lấy từ nhà cũ ở Istanbul và dùng lại để rào sân. Anh còn hiểu rằng lý do chính mình thấy hạnh phúc, đó là có thể nối lại tình bạn với Ferhat mà không tổn thương lòng tự trọng và đến đây mà không làm Rayiha bực. Anh giận mình đã nghĩ quá câu chuyện những lá thư và lo lắng vô ích suốt nhiều năm. Nhưng anh giữ ý để không ở một mình với Samiha.
Khi Samiha đặt kebab kiểu Beyşehir lên bàn, Mevlut đến ngồi ở đầu kia bàn. Lòng anh tràn ngập niềm vui làm vơi bớt những lo nghĩ công việc và tiền bạc. Khi anh nhâm nhi rakı mà Ferhat vừa rót vừa cười và nói đùa, anh cảm thấy thư thái nhưng anh vẫn thận trọng: anh nói ít vì sợ nói điều gì không phải.
Khi đầu anh bắt đầu quay, anh hoảng và quyết định không nói gì nữa. Anh đành lòng nghe mọi người quanh bàn trò chuyện (họ nói về trò chơi truyền hình mấy đứa con gái vừa bật), anh làm thỏa nhu cầu thổ lộ bằng cách nói thầm trong lòng.
Phải, những lá thư mình viết là cho Samiha, tất nhiên mình thấy ấn tượng vì đôi mắt cô ta! có lúc anh nghĩ. Anh không nhìn về phía cô nhưng phải, Samiha rất đẹp; và mắt cô đẹp đủ để biện minh cho mọi lời ngợi khen Mevlut viết trong thư.
Nhưng may là Süleyman lừa anh và Mevlut đề gửi cho Rayiha, dù anh nghĩ đến Samiha. Vì chỉ với Rayiha thì Mevlut mới được hạnh phúc. Thánh Allah đã tạo ra họ cho nhau. Anh rất yêu cô; Mevlut sẽ chết nếu không có Rayiha. Các cô gái đẹp như Samiha thì rất khó khăn và đòi hỏi, họ có thể làm mọi người khốn khổ vì những lý do không hiểu được. Mấy cô gái đẹp chỉ hạnh phúc khi lấy chồng giàu. Vậy nhưng một cô gái tốt như Rayiha vẫn yêu chồng dù anh ta không giàu. Sau bao năm làm giúp việc, giờ Samiha yên lòng là Ferhat đã thành nhân viên thu nợ của Sở điện lực và bắt đầu kiếm ra tiền.
Sẽ ra sao nếu mình ghi tên Samiha mà không phải Rayiha trên thư? Mevlut tự hỏi. Samiha có trốn đi với anh không?
Với tinh thần thực tế, ganh tị và chút tác động của rượu, Mevlut thú nhận với lòng mình là Samiha sẽ không đi với anh.
Đủ rồi, đừng uống nữa, Rayiha nói nhỏ vào tai anh. Anh không uống, Mevlut bực tức lẩm bẩm lại.
Samiha với Ferhat có thể hiểu sai những câu thừa thãi như vậy của Rayiha. Cứ để anh ta uống thoải mái đi, Rayiha, Ferhat can thiệp.
Giờ cuối cùng anh ta cũng nghỉ bán boza rồi, anh ta ăn mừng chuyện này…
Giờ người bán boza bị trấn lột ngoài đường, Mevlut nói.
Không phải là tôi muốn nghỉ. Anh nghi là Rayiha đã nói với họ vài lời về tình hình và để tìm việc cho anh mà họ đến đây, và anh thấy xấu hổ. Tôi muốn được bán boza đến cuối đời.
Được rồi Mevlut, ta hãy bán boza đến cuối đời! Ferhat nói. Có một quán nhỏ ở đường Imam-Adnan. Tôi tính mở ở đó một quán döner. Nhưng mở quán boza là ý hay hơn nhiều. Vì lão chủ không trả được nợ, quán giờ để không.
Mevlut giỏi quản lý quán lắm, Rayiha nói. Giờ anh có kinh nghiệm rồi.
Mevlut không mấy thích Rayiha xã giao lo tìm việc cho chồng. Nhưng lúc này anh còn không đủ sức bắt lỗi người khác và bực bội về chuyện ấy nữa. Anh không nói tiếng nào. Anh cảm thấy rằng Rayiha, Samiha và Ferhat đã quyết định một kế hoạch với nhau. Thật ra, chuyện này cũng hợp ý anh. Anh sẽ lại làm quản lý. Còn về biết nhờ phép lạ nào Ferhat kiếm được khá nhiều tiền để mở một quán ở Beyoğlu, anh cảm thấy qua mù mờ hơi rượu rằng đây không phải chuyện để hỏi.
Ferhat. Vừa có bằng trong túi, tôi vào làm trong Sở điện lực nhờ một người bà con Alevi ở Bingöl. Với luật tư hữu hóa điện năm 1991, vận may xoay chiều có lợi cho những người cần cù tháo vát. Một số nhân viên ghi điện tức thì chấp nhận điều kiện nghỉ hưu. Họ nhận tiền rồi đi. Số khác vẫn làm việc theo lối công chức cũ nhanh chóng bị sa thải. Còn những người năng nổ như tôi thì được trọng dụng.
Trong nhiều năm, nhà nước kéo điện đến mọi xó xỉnh Istanbul, từ các khu ổ chuột nghèo nhất và hẻo lánh nhất, cho đến các hang ổ do bọn đầu trộm đuôi cướp vô lại nhất kiểm soát. Và trong nhiều năm công dân dùng đủ mọi mưu mẹo để câu trộm điện. Vì nhà nước không có cách nào lấy lại tiền của những kẻ gian lận, họ tư hữu hóa việc bán điện và chuyển quyền quản lý các khoản chưa trả cho công ty tư nhân mà tôi là nhân viên. Họ còn thông qua luật thêm lãi suất phạt hằng tháng đáng kể vào hóa đơn chưa trả, nên những người không sợ nhân viên thu nợ, thậm chí còn cười cợt, buộc phải dè chừng và trả nợ.
Chủ quán ở đường Imam-Adnan, một người gốc Samsun bán báo, thuốc lá và sandwich, là một tay ranh ma nhưng không phải bậc thầy trong thuật gian lận. Quán thật ra thuộc về một người Hy Lạp già bị đuổi về Athens. Tay gốc Samsun dọn vào quán bỏ trống này mà không có bằng khoán cũng không hợp đồng thuê, nhưng hắn vẫn xoay xở nhờ ai đó trong tòa thị chính gắn một compteur. Tiếp theo, hắn kéo một đường ngoài compteur rồi cắm lò nướng bánh mì cũng như hai lò sưởi điện to làm quán ấm như nhà tắm hơi. Lúc tôi tóm hắn, các khoản hóa đơn chưa trả cộng với lãi suất điều chỉnh theo lạm phát như quy định mới cao đến mức hắn phải bán căn hộ ở Kasımpaşa mới trả nổi. Thay vì vậy, tiểu thương gốc Samsun này biến đi bỏ lại mọi thứ.
Tiệm bỏ không này nhỏ không bằng phân nửa Binbom và chỉ có đủ chỗ để kê một bàn hai người. Sau khi cho các con đi học, Rayiha như ngày xưa thêm đường vào boza ở nhà, rửa các thùng và mua sắm cho cái quán mà cô rất lo lắng chăm chút. Mỗi sáng, Mevlut đến mở quán lúc mười một giờ, và vì không ai uống boza vào giờ này buổi sáng, anh chăm chỉ bày quán và sắp đặt ngăn nắp, xếp ly tách, bình, lọ quế trên kệ nhìn ra đường, như anh thấy ở tiệm boza Vefa.
Khi họ quyết định biến quán thành tiệm boza, mùa bán đã gần hết, nhưng cái lạnh còn tiếp tục một thời gian dài, nên năm ngày sau họ hối hả khai trương thì quán nhận được nhiều chú ý. Phấn khởi vì thành công sơ khởi này, Ferhat đầu tư vào quán, tân trang lại tủ đông dùng làm tủ bày hàng, sơn lại mặt tiền và cửa (theo yêu cầu của Mevlut, thành màu vàng kem như boza), gắn ngọn đèn trên cửa để thu hút ánh mắt khách hàng buổi tối, và mang một tấm gương từ nhà đến.
Họ cũng nhớ rằng cần đặt tên cho quán. Mevlut thấy chỉ cần viết TIỆM BÁN BOZA trên cửa. Nhưng một người làm bảng hiệu thông minh cung cấp dịch vụ cho các tiệm hiện đại ở Beyoğlu giải thích rằng một tên như vậy thì khó làm ăn phát đạt. Anh ta hỏi về câu chuyện của họ và mở cuộc thảo luận, thế rồi khi biết họ cưới hai chị em, anh ta tức thì nghĩ ra tên cho quán: QUÁN BOZA ANH EM CỌC CHÈO.
Dần dà, tên này chỉ còn ngắn gọn là Anh em cọc chèo. Theo như họ thỏa thuận trong một bữa trưa cà nghiền say rakı ở phường Gazi, Ferhat bỏ vốn vào việc làm ăn (một quán bỏ không ở Beyoğlu không tốn tiền thuê cũng như tiền điện), Mevlut bỏ vốn khai thác (boza, đường, đậu gà rang và quế anh mua hai lần mỗi tuần), công sức của anh và của Rayiha. Tiền lòi sẽ chia đều giữa hai người bạn thuở nhỏ.
Samiha. Sau bao năm tôi làm giúp việc, Ferhat lại không chịu cho tôi đi làm trong quán của Mevlut. Quên đi, trong quán boza thì không, anh nói, làm tôi buồn lòng. Nhưng chính anh thấy tò mò, và mấy tháng đầu, hầu như tối nào anh cũng đến quán phụ Mevlut, và về nhà muộn. Tôi cũng muốn xem, và tôi đi mà giấu Ferhat. Nhưng không ai muốn mua gì của hai người đàn bà trùm khăn. Vì vậy mà chẳng mấy chốc quán cũng giống như hàng ngàn tiệm ở Istanbul nơi đàn ông giữ quầy và phục vụ khách trong khi đàn bà trùm khăn lo bếp lò và rửa chén đằng sau. Trừ chuyện là chúng tôi, chúng tôi bán boza.
Mở quán Anh em cọc chèo được mười ngày, cuối cùng vợ chồng tôi cũng đã rời phường Gazi và dọn vào căn hộ có lò sưởi Ferhat thuê ở Çukurcuma. Xung quanh có người buôn đồ cũ, người sửa bàn ghế, bệnh viện và hiệu thuốc. Từ cửa sổ tôi thấy được một phần đại lộ Sıraselviler, đám đông đến đi Taksim.
Buổi chiều, ở nhà buồn chán nên tôi đến quán Anh em cọc chèo. Lúc năm giờ, Rayiha về để không bỏ các con gái một mình khi đêm xuống và để lo cơm nước, nên tôi cũng đi để tránh còn lại một mình với Mevlut. Ít lần tôi còn ở lại quán khi Rayiha đi rồi, nhưng Mevlut xoay lưng về phía tôi. Anh chỉ thi thoảng liếc trong gương. Tôi cũng nhìn trong gương, tôi không nói lời nào với Mevlut. Ferhat thường đến muộn hơn, biết sẽ gặp tôi ở đó; được ít lâu thì anh cũng quen chuyện tôi đến quán. Tôi rất thích khi Ferhat với tôi còn một mình và chúng tôi cùng lo cho khách.
Đó là lần đầu tiên vợ chồng làm chung với nhau. Ferhat thường bình luận về mỗi khách đến uống boza: gã đần này thổi vào ly vì nghĩ boza là thức uống nóng như salep. Người kia phụ bán hàng trong một tiệm giày ở đại lộ; chính Ferhat giúp họ mắc compteur điện. Sau khi mời miễn phí người thứ ba một ly boza nữa chỉ vì anh ta thích thú uống cạn ly, Ferhat bắt chuyện và khiến anh ta kể về những ngày đi quân dịch.
Quán Anh em cọc chèo mở được hai tháng thì ai cũng hiểu rằng việc này không sinh lợi, nhưng không ai nói gì. Quán Anh em cọc chèo kiếm được nhiều lắm là gấp ba cái Mevlut bán được ngoài đường đêm đông lạnh thời còn buôn bán được. Tiền lời chỉ trang trải được phân nửa chi phí hằng tháng của một gia đình không con. Chưa kể nhờ các mối quan hệ của Ferhat mà họ không phải trả tiền thuê cũng như tiền trà nước cho tòa thị chính hay thuế vụ. Nhưng ở một chỗ nhộn nhịp như vậy, dưới đại lộ İstiklal một đường, họ muốn bày thêm thứ gì cũng bán được.
Mevlut không mất hy vọng. Rất nhiều người đi ngang đường này dừng chân uống một ly khi thấy bảng hiệu, và phần lớn nói với Mevlut là anh mở một quán như vậy là đúng. Mevlut thích trò chuyện với đủ hạng khách hàng, từ các bà mẹ cho con nếm boza lần đầu tiên, đám say, đám mô phạm dạy đời và đám gàn nghi ngờ mọi thứ.
Boza là để uống buổi tối, anh làm gì giờ này buổi sáng?
Anh nấu sẵn cái này ở nhà à?
Giá của anh cao, ly của anh nhỏ, cần bỏ thêm đậu gà nữa. (Mevlut nhanh chóng hiểu rằng chỉ trích người ta tha cho người bán rong boza nghèo khổ thì giờ họ không nhịn với chủ quán.) Tốt lắm, anh làm một việc danh dự, thậm chí yêu nước.
Tôi vừa nốc một Kulüp Rakı nhỏ, giờ tôi uống một boza thì sao, không uống thì sao?
Xin lỗi, tôi phải uống boza trước hay sau ăn, như tráng miệng?
Anh bán boza này, anh có biết boza là từ chữ booze trong tiếng Anh không?
Anh có giao tận nhà không?
Anh có phải con ông Mustafa bán sữa chua? Anh học việc với cha. Chúc mừng!
Trong phường bọn tôi có người bán dạo boza nhưng bọn tôi không thấy ông ta nữa.
Người bán ngoài đường sẽ ra sao nếu người ta bán boza trong quán?
Anh bán boza, rao Boozaa đi, để bọn trẻ nghe và học.
Nếu có tâm trạng vui vẻ, Mevlut vừa cười vừa cất tiếng rao Boozaa để không làm thất vọng khách hàng tò mò, và nhất là các gia đình có con. Phần lớn những người nói Cái anh làm thật lớn lao rồi giảng giải về giá trị của truyền thống thời Ottoman thì không quay lại. Mevlut sững sờ vì số khách thiếu tin tưởng muốn tận mắt kiểm xem ly họ đã rửa sạch chưa, và những khách hung hăng hỏi nguyên liệu dùng nấu boza có tốt cho sức khỏe không. Trái lại, anh không ngạc nhiên thấy ai đó uống boza lần đầu tiên trong đời nhăn mặt sau ngụm đầu, hay người khác bỏ nửa ly mà nói nó chua quá hay ngọt quá.
Boza tôi mua buổi tối ở người bán rong thì đúng chất hơn nhiều, có người khinh khỉnh nói. Người khác uống chưa hết ly đã bỏ đi mà nói, Tôi tưởng cái này uống nóng.
Khai trương được một tháng thì Ferhat cứ cách tối lại đến quán để phụ một tay. Lúc có chiến tranh giữa quân đội Thổ và du kích Kurd ở phía Đông, làng của cha anh bị sơ tán, nên bà nội không nói được tiếng Thổ chạy lên Istanbul. Ferhat kể cho Mevlut anh bập bẹ tiếng Kurd với bà làm sao. Người Kurd di cư lên Istanbul sau khi làng họ bị thiêu rụi dần dà đến sống trong một số đường và tổ chức thành từng băng. Người ta đồn rằng thị trưởng mới của đảng Hồi giáo sẽ đóng cửa các hàng quán có bán rượu và kê bàn ngoài vỉa hè. Khi mùa hè đến, họ còn bán thêm kem.
Rayiha. Chúng tôi cũng mang một cái gương ở nhà đến quán, như Ferhat với Samiha. Tôi nhận thấy là có những chiều Mevlut không nhìn ra ngoài quán mà nhìn vào gương của chúng tôi gần cửa sổ. Tôi sinh nghi. Lợi dụng lúc Mevlut ngoài đường, tôi đi lại chỗ anh thường ngồi và, khi nhìn vào gương như anh, tôi thấy gương mặt và đôi mắt của Samiha ngay sau lưng. Khi nghĩ rằng, nhờ gương, cả hai trao nhau những cái nhìn mà tôi không biết, tôi đâm ghen.
Có lẽ tôi lầm nhưng chuyện này ám ảnh tôi. Buổi chiều Samiha không cần đến khi Mevlut với tôi làm việc trong quán. Hơn nữa, sao nó phải quan tâm như vậy, như thể họ cần tiền khi mà giờ đây Ferhat túi chật căng tiền lấy ở những người gian lận compteur điện? Xế chiều, khi tôi về để lo cho các con ở nhà, Samiha cũng về ngay nhưng cũng có lúc nó mải mê làm nên quên: bốn lần khi tôi đi rồi nó vẫn ở lại một mình với Mevlut trong quán.
Thật ra, Samiha để tâm đến quán không bằng căn hộ vợ chồng mới thuê ở Cihangir. Một chiều, tôi dẫn các con ghé mà không báo trước, Samiha không có nhà, không nhịn được, tôi dẫn con đi thẳng đến quán. Mevlut ở đó, nhưng không có Samiha. Em đến đây vào giờ này làm gì? Mevlut nói. Anh đã dặn em là không được dẫn con đến đây! Anh nói như một người xấu xa, không phải Mevlut thiên thần của tôi ngày xưa. Tôi tự ái đến mức ba hôm liền tôi không đặt chân đến quán. Tất nhiên là Samiha cũng không thể quay lại đó khi vắng mặt tôi và nó tức thì đến nhà thăm tôi. Có chuyện gì vậy chị, em thấy lo, nó nói hoàn toàn thành thật. Tôi xấu hổ vì ghen và đáp là tôi bệnh. Em biết rõ là chị không bị gì cả. Ferhat cũng cư xử xấu với em, nó nói, không phải để khéo léo dò hỏi tôi mà vì cô em thông minh của tôi đã hiểu từ lâu rằng các ông chồng là nguồn cơn rắc rối cho phụ nữ chúng tôi. Phải mà không có quán này thì Mevlut với tôi lại được một mình như trước.
Giữa tháng Mười thì họ lại bắt đầu bán boza. Mevlut nghĩ tốt hơn là dẹp đi những sandwich, bánh quy, chocolate và các thứ kẹo bánh khác để chỉ bày boza, quế và đậu gà rang, nhưng, vì anh luôn lạc quan nhất trong số họ, họ không nghe anh. Mỗi tuần một hai buổi tối Mevlut để quán cho Ferhat và đi giao boza cho những khách quen. Do chiến tranh ở phía Đông, ở Istanbul có các vụ nổ, biểu tình, văn phòng báo chí bị bỏ bom ban đêm, nhưng Beyoğlu vẫn luôn đông đúc.
Cuối tháng Mười một, thợ khóa sùng đạo bên kia đường báo với họ là có một bài viết về quán đăng trên báo Irşad. Mevlut chạy đến ki-ốt trên đại lộ İstiklal. Về quán, anh với Rayiha xem kỹ tờ báo từ đầu đến cuối.
Trong một cột có tựa Ba quán mới, đầu tiên người ta ca ngợi quán boza Anh em cọc chèo, rồi một tiệm bán dürüm ở Nişantaşı và một quán chỉ bán güllaç và aşure ở Karaköy. Lưu truyền các truyền thống xưa thay vì vứt bỏ để học đòi Tây phương là một nghĩa vụ thiêng liêng cũng như thờ cúng tổ tiên. Nếu, với tư cách một nền văn minh, chúng ta muốn bảo tồn bản sắc dân tộc của mình, lý tưởng và tín ngưỡng của đất nước mình, trước hết chúng ta phải học cách trung thành với các món ăn và thức uống của mình.
Buổi tối Ferhat vừa vào quán thì Mevlut vui vẻ đặt tờ báo trước mặt anh ta.
Anh nói sau bài báo này thì có khá nhiều khách mới đến quán.
Quên đi, Ferhat nói. Không ai đến quán sau khi đọc Irşad đâu. Họ còn không ghi địa chỉ quán mình. Ta bị lợi dụng để tuyên truyền cho một tờ báo Hồi giáo bẩn thỉu.
Mevlut không nhận ra rằng tờ Irşad là tờ báo Hồi giáo cũng như không nhận thấy đó là một bài báo tuyên truyền. Ferhat bực khi thấy bạn không hiểu điều đó. Anh ta cầm tờ báo lên. Đọc mấy cái tít này đi: Thánh Hamza và trận Uhud…Ý định, số mệnh và ý chí trong Hồi giáo… Vì sao hành hương là một nghĩa vụ tôn giáo…
Các chủ đề đó có hại sao? Giáo trưởng đã nói rất hay về những đề tài này và Mevlut thích nghe ông. May là Mevlut chưa nói với Ferhat về giáo trưởng. Biết đâu Ferhat cũng sẽ gọi Mevlut là tên Hồi giáo bẩn thỉu.
Ferhat tiếp tục giận dữ đọc các trang Irşad, Tướng Fahrettin đã làm gì tên gián điệp đồi trụy Lawrence?… Hội Tam Điểm, CIA và bọn đỏ… Tên nhân quyền Anh này hóa ra là Do Thái!
May là Mevlut chưa nói với giáo trưởng rằng cộng sự của anh là người Alevi. Giáo trưởng tưởng bạn của Mevlut là người Thổ Sunny, và ngay khi cuộc nói chuyện của họ đề cập xa gần các vấn đề động chạm đến người Alevi, người Shia của Iran hay Hazat Ali, Mevlut liền đổi đề tài để không nghe giáo trưởng nói gì xấu về họ.
Một cuốn Koran màu có bình chú, có bọc bìa, chỉ ba mươi coupon của tờ Irşad, Ferhat đọc. _Nếu mấy người này lên nắm quyền, việc đầu tiên họ làm là cấm người bán rong, như ở Iran.
Họ còn treo cổ một vài người như anh._
Không đâu, Mevlut phản đối. Trong boza có cồn, nhưng họ có phản đối chút nào đâu?
Vì mức độ cồn trong boza không đáng kể, Ferhat đáp. Phải, boza, nó chẳng là gì so với Kulüp Rakı của anh.
Sao, giờ anh thấy có vấn đề với rượu à? Nếu động đến rượu là tội, mức độ nào cũng không quan trọng. Và chúng ta chỉ còn biết dẹp tiệm.
Mevlut cảm thấy sự hăm dọa. Quán này mở là nhờ tiền của Ferhat. Chắc anh cũng đã bầu cho phe Hồi giáo này rồi không chừng?
Không, làm gì có, Mevlut nói dối.
Anh muốn bỏ phiếu cho ai thì cứ bỏ đi, Ferhat nói vẻ kẻ cả khinh khi.
Tâm trạng vui vẻ của họ tan biến. Một thời gian sau Ferhat không ghé quán buổi tối. Do chuyện này, Mevlut không thể đi giao boza cho khách quen cũ.
Buổi tối, khi không ai đến quán, anh thấy buồn chán. Vậy mà Mevlut không bao giờ thấy buồn chán khi ban đêm đi bán boza, ngay cả trong đường vắng nhất không một cửa sổ nào mở và không ai mua boza. Khi anh bước, trí tưởng tượng của anh hoạt động, nhắc Mevlut nhớ rằng trên đời này còn một thế giới khác bên trong thế giới này, giấu đằng sau tường thánh đường, nhà gỗ đổ nát, nghĩa trang.
Tờ Irşad có đăng tấm hình một thế giới như cái tồn tại trong óc Mevlut. Tất nhiên, hình ảnh này được in với dụng ý khác, để minh họa cho một loạt bài nhan đề Thế giới bên kia. Những tối Mevlut còn một mình trong quán, anh mở tờ báo viết về Anh em cọc chèo và nhìn hình này.
Vì sao các tấm bia lại nghiêng? Vì sao mỗi phiến bia mộ đều khác nhau và một số đổ nghiêng buồn bã? Cái thứ màu trắng từ trên cao xuống như vầng hào quang sáng này là gì? Vì sao những thứ già cỗi, các cây bách gọi những tình cảm đẹp đẽ trong Mevlut?
Đọc Xa lạ trong tôi
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 01 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 02 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 03 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 04 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 05 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 06 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 07 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 08 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 09 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 10 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 11 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 12 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 13 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 14 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 15 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 16 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 17 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 18 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 19 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 20 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 21 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 22 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 23 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 24 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 25 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 26 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 27 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 28 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 29 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 30 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 31 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 32 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 33 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 34 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 35 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 36 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 37 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 38 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 39 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 40 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 41 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 42 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 43 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 44 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 45 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 46 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 47 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 48 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 49 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 50 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 51 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 52 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 53 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 54 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 55 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 56 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 57 tại đây.

- thu-vien (1213)
- van-hoc (1244)
- van-hoc-nuoc-ngoai (149)
- tieu-thuyet (57)
- orhan-pamuk (58)
- xa-la-trong-toi (57)
xa-la-trong-toi-chuong-40 (1)
xa-la-trong-toi-40 (1)