Xa lạ trong tôi chương 03 kể cuộc đời người bán boza Mevlut Karataş và bức tranh Istanbul từ 1969 đến 2012 qua nhiều nhân vật. Tác phẩm của nhà văn đạt giả Noel Văn học 2009 Orhan Pamuk.
Đọc Xa lạ trong tôi chương 03
Tháng Chín, 1968 – tháng Sáu 1982
Tôi bị cha căm ghét từ khi còn nằm nôi.
STENDHAL, Đỏ và đen.
Ngày Mevlut còn sống ở làng.
Thế giới này nói gì nếu nó biết nói?
Để hiểu quyết định của Mevlut, sự gắn bó với Rayiha và nỗi sợ chó, giờ chúng ta hãy quay lại thời thơ ấu của anh. Mevlut sinh năm 1957 tại Cennetpınar, một ngôi làng thuộc huyện Beyşehir, tỉnh Konya, và cho đến năm mười hai tuổi cậu chưa từng bước chân ra khỏi làng. Hết tiểu học, cậu tưởng mình sẽ lên Istanbul để tiếp tục học hành và làm việc với cha như những đứa trẻ khác cùng gia cảnh, nhưng cha không chịu dẫn cậu theo, nên mùa thu 1968, cậu ở lại làng chăn gia súc. Cho đến cuối đời Mevlut vẫn băn khoăn vì lý do gì năm đó cha cứ khăng khăng để cậu lại làng nhưng không bao giờ tìm được giải đáp thỏa đáng. Mùa đông đó Mevlut thấy buồn bã và lẻ loi vô cùng vì hai anh họ Korkut với Süleyman cũng đã lên Istanbul. Cậu chăn chừng chục con gia súc mà cậu cho gặm cỏ ven suối. Ngày ngày cậu ngắm nhìn cái hồ xanh nhạt xa xa, xe bus và xe tải chạy trên đường, chim chóc và những cây dương.
Thi thoảng, lá cây dương lay động trong gió làm cậu chú ý, cậu có cảm giác như cây đang ra dấu với cậu. Mevlut thấy có bên mặt lá tối sẫm, số khác thì vàng úa. Chỉ cần một làn gió nhẹ nổi lên là lá tối sẫm xoay bên mặt vàng còn lá vàng xoay bên mặt tối sẫm ra.
Trò tiêu khiển vui nhất của cậu là đi lượm từng que củi mục, loại đi những phần còn ẩm rồi dồn lại để nhóm lửa. Khi củi bén rồi cháy hừng hực, con chó Kâmil của cậu bèn chạy lăng xăng quanh đám lửa, và hễ Mevlut ngồi xuống hơ tay cho ấm, con chó cũng bắt chước chủ, ngồi xuống cách xa một chút, im lìm nhìn đám lửa hồi lâu.
Chó trong làng đều biết Mevlut, và dù cho cậu liều ra ngoài giữa đêm hôm, trong bóng tối và im lặng như tờ, không con nào sủa cậu, vì vậy mà Mevlut cảm thấy mình thuộc về nơi này. Chó trong làng chỉ sủa người ngoài đến, người nào có vẻ là mối đe dọa và người lạ. Nếu chó sủa người nào trong làng, chẳng hạn Süleyman, anh họ và bạn thân nhất của cậu, mọi người sẽ chọc, Süleyman, mày đang toan tính trò quỷ trong đầu chứ gì!
Süleyman. Thật ra chó trong làng không bao giờ sủa tôi. Giờ gia đình tôi di cư lên Istanbul rồi, tôi buồn vì Mevlut vẫn còn ở làng, tôi nhớ nó… Nhưng chó trong làng đối xử với tôi cũng không khác gì với Mevlut. Tôi phải nói điều đó.
Thỉnh thoảng Mevlut để bầy thú gặm cỏ bên dưới rồi cùng chó Kâmil trèo lên đồi. Từ trên cao này nhìn toàn cảnh bao la trải dài bên dưới, Mevlut khao khát được sống, được hạnh phúc, được là một ai đó ở đời. Nhiều lúc cậu mơ màng là cha đi xe đò về đón cậu lên Istanbul. Vạt đất bằng phẳng cậu cho bầy gia súc gặm cỏ bên dưới bị chắn một vách đá dựng đứng nơi khúc quanh suối. Phía bên kia vạt đất bằng phẳng, cậu thấy khói bốc lên. Cậu biết đám lửa là do mấy thằng nhỏ chăn gia súc làng Gümüşdere bên cạnh đốt, chúng cũng như cậu, không được lên Istanbul tiếp tục học hành. Những hôm có gió và bầu trời quang đãng, nhất là buổi sáng, những túp nhà nhỏ làng Gümüşdere, thánh đường trắng đẹp đẽ và ngọn tháp mảnh mai thấy rõ từ trên đỉnh mà Mevlut với con chó trèo lên.
Ông Abdurrahman. Vì tôi sống ở làng Gümüşdere, tôi thu hết can đảm mà xen vào câu chuyện: trong thập niên 1950, dân làng Gümüşdere chúng tôi, làng Cennetpınar và ba làng khác xung quanh đều nghèo xơ. Mùa đông chúng tôi mua chịu ở tiệm tạp hóa, rồi đến mùa xuân chúng tôi rất khó mà trả nợ. Mùa xuân, một số đàn ông lên Istanbul để làm việc trên các công trường. Vì một số chúng tôi không có xu nào, lão chột bán tạp hóa ứng trước tiền tàu xe lên Istanbul và ghi lên đầu số nợ. Năm 1954, người đầu tiên trong làng Gümüşdere chúng tôi được thuê làm nhân công ở Istanbul là Yusuf, một người to cao vạm vỡ vai rộng. Thế rồi, sự tình cờ đưa đẩy sao mà anh ta thành người bán sữa chua và kiếm được rất nhiều tiền bằng nghề bán rong này. Anh ta kêu anh em ruột anh em họ lên Istanbul, đi làm và sống trong các dãy nhà trọ dành cho người độc thân. Trước đó, dân làng Gümüşdere chúng tôi có biết gì về sữa chua đâu. Thế rồi mọi người rủ nhau bỏ lên Istanbul bán sữa chua gần hết. Lần đầu tiên tôi đặt chân đến Istanbul là năm hai mươi hai tuổi, đi quân dịch về. (Tôi phải đi quân dịch đến bốn năm vì tôi vô kỷ luật, nhiều lần âm mưu đào ngũ nhưng đều bị tóm lại, bị đánh và bị nhốt, nhưng đừng hiểu sai tôi, tôi là người yêu quý quân đội và các chỉ huy gan dạ của chúng ta hơn ai hết.) Thời điểm đó quân đội vẫn chưa treo cổ thủ tướng Menderes; cả ngày ông ta ngồi Cadillac đi ngang dọc phố phường Istanbul, ông ta ra lệnh phá hủy mọi konak và tòa nhà cũ ông ta bắt gặp trên đường và cho mở những đại lộ thênh thang. Người bán rong đi giữa từng đống gạch vụn ở Istanbul bán buôn được; nhưng tôi lại không thành công trong nghề bán sữa chua. Người vùng chúng tôi dẻo dai khỏe mạnh, xương to và vóc người rộng. Tôi thì lại mảnh mai, thể trạng yếu ớt, các vị có thể tận mắt thấy nếu ngày nào chúng ta gặp nhau. Từ sáng đến tối tôi oằn vai dưới sức nặng của đòn gánh với hai thau từ hai mươi đến ba mươi cân sữa chua treo hai đầu. Đã vậy, như đa số người bán sữa chua, tối đến tôi còn đi bán boza kiếm thêm chút đỉnh. Bất kể ta kê ta lót gì thì đòn gánh cũng vẫn cạ lên vai và gáy của người mới vào nghề và làm chúng chai sần. Mới đầu, tôi rất hài lòng là da không bị chai mà vẫn mềm mại, nhưng rồi tôi nhận ra là cái đòn gánh khốn kiếp báo hại còn hơn vậy nữa, tôi bị vẹo cột sống và phải đi bệnh viện. Tôi xếp hàng chờ cả tháng trời rồi bác sĩ kêu tôi bỏ gánh gồng ngay lập tức. Hiển nhiên là tôi phải kiếm sống, nên tay bác sĩ mới là cái tôi bỏ, không phải cây đòn gánh. Vì vậy mà cổ tôi bắt đầu vẹo, và biệt danh bạn bè ghép cho tôi từ Cô nàng Abduş thành ra Abdurrahman Vẹo cổ, nó cũng làm tôi đau lòng chẳng kém. Ở Istanbul tôi tránh xa dân làng mình, nhưng tôi thường bắt gặp Mustafa, ông cha dễ cáu giận của Mevlut với ông bác Hasan của nó đi bán sữa chua ngoài đường. Giai đoạn này tôi đâm sinh tật uống rakı, tôi uống cho quên cái đau ở đốt sống cổ. Được ít lâu thì tôi bỏ hẳn giấc mơ có một túp nhà ở Istanbul, một gecekondu, đất đai, dành dụm mà vui chơi chút đỉnh. Tiền mang từ Istanbul về, tôi mua miếng đất ở làng rồi tôi cưới người con gái nghèo nhất và tứ cố vô thân nhất làng Gümüşdere. Bài học tôi học được ở Istanbul, đó là, để bám trụ ở thành phố này, ta phải có ít nhất ba thằng con trai đem dưới làng lên, bắt chúng làm quần quật như thợ thuyền. Tôi nghĩ bụng mình phải có ba thằng con mạnh như sư tử, dắt chúng lên Istanbul, xây cho mình túp nhà trên ngọn đồi đầu tiên gặp được rồi lúc đó tôi sẽ chinh phục thành phố. Nhưng về làng, tôi không đẻ ra ba thằng con trai, mà ba đứa con gái. Nên hai năm trước tôi bỏ hẳn về làng, tôi rất thương mấy đứa con gái của tôi. Giờ cho phép tôi giới thiệu chúng với các vị:
Vediha: tôi muốn thằng con trai đầu lòng nghiêm túc, cần cù, nên tôi quyết định đặt cho nó là Vedii. Rủi thay nó lại là con gái. Nên thay vì Vedii, tôi gọi nó là Vediha.
Rayiha: con bé thích ngồi trên đầu gối cha và nó có cái mùi dễ thương.
Samiha: nó đúng là con quỷ nhỏ, khóc nheo nhẻo tối ngày, chưa được ba tuổi mà nó đã đi thình thịch khắp nhà.
Ở làng Cennetpınar, buổi tối thỉnh thoảng Mevlut ngồi với mẹ Atiye và hai chị rất mực cưng chiều cậu, viết thư cho cha, ông Mustafa, đòi cha mua trên Istanbul về cho giày, pin, kẹp nhựa phơi đồ hay xà phòng. Vì cha cậu không biết đọc biết viết, ông rất hiếm khi trả lời thư Mevlut và, nói chung, trong những thứ đã dặn ông không mang gì về mà nói, Mua chỗ lão tạp hóa chột trong làng rẻ hơn mà.
Không phải vì nó không có ở lão bán tạp hóa chột mà mẹ con em đòi anh, Mustafa à, mà vì ở nhà không có! thỉnh thoảng mẹ của Mevlut càm ràm. Những thư Mevlut viết cho cha gieo trong đầu cậu ý niệm viết thư xin cái gì đó. Có ba yếu tố cần tính đến để VIẾT THƯ XIN AI ĐÓ Ở XA CÁI GÌ ĐÓ:
-
Cái ta thật sự muốn mà ta vẫn chưa biết là gì.
-
Cái ta chuẩn bị nói ra và nó giúp ta hiểu cái ta thật sự muốn.
-
Lá thư, một văn bản kỳ bí với nội dung khó hiểu được nuôi dưỡng bằng tinh thần điểm 1 và 2 nhưng mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.
Ông Mustafa. Cuối tháng Năm từ Istanbul về, tôi mang cho các con gái những xấp vải tím, lục hay in hoa để may áo váy; cho mẹ chúng thì những đôi dép nỉ và nước hoa Pe-Re-Ja mà Mevlut viết trong thư; cho Mevlut là món đồ chơi nó đòi. Tôi đau lòng vì Mevlut cảm ơn miễn cưỡng khi thấy món quà. Nó muốn một khẩu súng nước, nhưng là cái y hệt như của con trai trưởng thôn… mẹ nó giải thích còn mấy con chị nó cười. Ngày hôm sau tôi dẫn Mevlut đến chỗ lão chột bán tạp hóa và cha con tôi vừa xem lại sổ nợ vừa gạch bỏ từng khoản một. Nói xem, kẹo cao su Çamlıca gì đây? chốc chốc tôi nổi nóng, nhưng Mevlut cứ cúi gằm vì chính nó mua. Lần sau ông không được bán kẹo cao su cho nó nữa! tôi hăm lão chột bán tạp hóa. Dù sao thì mùa đông tới cũng nên cho Mevlut lên Istanbul học! lão chột thông thái rởm nói. Thánh Allah phù hộ, nó rất có khiếu tính toán và toán học. Biết đâu nó là người duy nhất trong làng ta học lên đến đại học.
Tin cha của Mevlut bất hòa với bác Hasan trên Istanbul mùa đông năm ngoái lan nhanh khắp làng… Những ngày lạnh nhất tháng Mười hai năm ngoái, bác Hasan với hai con trai Korkut và Süleyman rời căn nhà họ sống chung với cha của Mevlut ở Kültepe, bỏ cha Mevlut lại một mình và dọn vào một nhà khác mà họ chung tay xây trên đồi Duttepe trước mặt. Ít lâu sau, vợ bác Hasan là Safiye, vừa là dì của Mevlut vừa là bác dâu, từ dưới làng lên thành phố sống trong nhà mới này để chăm sóc cho cha con họ. Những diễn biến này có nghĩa là, để không thui thủi một mình ở Istanbul, mùa thu ông Mustafa có thể dẫn Mevlut lên sống với ông.
Süleyman. Cha tôi với chú Mustafa là anh em, nhưng lại có họ khác nhau. Giai đoạn Atatürk ra lệnh là ai cũng phải lấy một họ, đến ngày chót viên chức hộ tịch từ Beyşehir về làng với những sổ sách to tướng chở trên lưng lừa rồi ghi vào sổ cái họ mỗi người chọn. Lúc đó đến lượt ông nội tôi, một người rất sùng đạo và rất được nể trọng, cả đời ông chưa bao giờ đi đâu xa hơn Beyşehir. Ông ngẫm nghĩ hồi lâu rồi chọn Aktaş. Hai thằng con như thường lệ đang cãi cọ bên cạnh. Ghi cho cháu Karataş, chú Mustafa lúc đó còn là thằng nhóc cất giọng bướng bỉnh, nhưng ông nội tôi và viên chức không ai thèm nghe. Nhiều năm sau, trước khi Mevlut ghi danh vào học cấp hai ở Istanbul, chú Mustafa tính khí ngang bướng và quạu cọ của tôi xuống Beyşehir yêu cầu thẩm phán đổi họ cho ông, vì vậy mà chúng tôi giữ họ Aktaş, còn gia đình bên phía Mevlut lấy họ Karataş. Mevlut Karataş con trai chú rất muốn mùa thu này lên Istanbul đi học. Nhưng cho đến nay chưa có đứa nào trong làng chúng tôi hay các làng bên được dẫn lên Istanbul để học hành mà học xong trung học. Quanh đây có cả trăm làng mạc thị trấn nhưng chỉ có một thằng vào được đại học. Sau đó thì con mọt sách cận thị này sang Mỹ và không ai nghe gì về nó nữa. Nhiều năm sau, có người nói thấy hình nó trên báo nhưng, vì nó đã đổi họ, không ai chắc đó là con mọt sách đeo kính của chúng tôi. Theo tôi nghĩ thì thằng khốn đó thành người Cơ Đốc từ đời nào rồi.
Một tối gần cuối hè, cha của Mevlut lấy ra cái cưa gỉ sét cậu thấy từ khi còn nhỏ. Ông kéo con trai ra dưới cây sồi già. Thong thả, kiên nhẫn, họ cưa một cành
to bằng cổ tay. Cành cây dài và hơi cong. Dùng một con dao cắt bánh mì rồi đến một dao nhíp, cha cậu tỉa bỏ hết các cành con.
Cái này để làm đòn gánh cho con! ông nói. Ông lấy hộp diêm trong bếp ra rồi kêu Mevlut nhóm lửa. Vừa hơ từ từ và hun đen các mấu gỗ trên lửa, ông vừa uốn cây đòn gánh cho đến khi khô. Cái này không làm xong một lần được đâu. Phải đem nó ra phơi nắng đến hết hè, vừa hơ đều trên lửa cho đến khi khô. Lúc đó nó sẽ cứng như đá và láng mịn như nhung. Thử xem nó có vừa vai con không.
Mevlut đặt đòn gánh lên vai. Cậu rùng mình khi cảm nhận độ cứng và hơi nóng của đòn gánh trên gáy và vai.
Cuối hè khi lên đường đi Istanbul, hai cha con mang theo một bao tarhana, ớt khô, những túi tấm lúa mì và bột nghìn lớp, những giỏ quả óc chó. Cha cậu biếu tấm lúa mì và quả óc chó cho mấy người giữ cửa các tòa nhà quan trọng để họ đối xử tử tế với ông và cho ông đi nhờ thang máy. Họ còn cầm theo một cây đèn pin để đem lên Istanbul sửa, ấm trà mà cha cậu thích và mang từ Istanbul về làng, một tấm chiếu để trải giữa sàn nhà đất nện và đủ thứ đồ lỉnh kỉnh khác. Suốt chuyến tàu một ngày rưỡi, các giỏ và túi nhựa họ nhồi đồ căng cứng cứ rót ra từ mọi khe kẽ họ nhét vào. Mevlut mải mê ngắm cảnh vật bên ngoài cửa sổ tàu, dù là cậu đang nghĩ đến mẹ và các chị mà chưa gì cậu đã thấy nhớ và chộp kịp thời những quả trứng luộc trong giỏ rơi ra lăn lóc tận giữa khoang tàu.
Thế giới bên ngoài cửa sổ tàu có nhiều người, đồng lúa mì, cây dương, bò,
cây cầu, lừa, nhà cửa, núi non, thánh đường, máy kéo, câu, chữ, tinh tú và cột điện hơn Mevlut từng được thấy trong mười hai năm đời cậu. Hàng cột điện nối tiếp nhau vun vút lướt qua nhiều lúc làm cậu thấy hoa mắt, cậu dựa đầu vào vai cha ngủ thiếp đi; khi tỉnh dậy, cậu nhận thấy là những cánh đồng vàng, những đụn lúa mì ruộm nắng đã biến đâu mất, thay vào đó là những tảng đá nhuốm tím bốn bề, nên về sau, cậu thường nằm mơ thấy Istanbul là một thành phố được xây bằng những khối đá tím này.
Rồi cậu thấy một con sông xanh cùng cây cối xanh rì, và cậu thấy tâm hồn mình cũng đổi màu. Thế giới này nói gì nếu nó biết nói? Nhiều lúc Mevlut tưởng như không phải con tàu tiến tới, mà toàn thể vũ trụ ngoài cửa sổ kia diễu hành. Đến mỗi ga cậu lại hô tên nhà ga cho cha, Hamam… İhsaniye… Döğer…; khi cậu bắt đầu chảy nước mắt vì khói thuốc đặc quánh trong buồng, cậu bỏ ra ngoài, ngả nghiêng như người say tiến đến nhà vệ sinh, cạy cục kéo then cài cửa và quan sát đường ray cùng đá ba-lát qua lỗ bồn cầu kim loại. Tiếng bánh tàu xình xịch vọng qua lỗ này nghe to khủng khiếp. Lúc quay lại, Mevlut đi đến tận toa cuối để quan sát đám người đông đúc trong các buồng, đàn bà ngủ gật gà, trẻ con kêu khóc, thiên hạ chơi bài, cầu nguyện hay ăn sucuk làm cả toa um mùi tỏi.
Con cứ ra nhà vệ sinh hoài làm gì vậy? cha cậu hỏi. Có nước vòi không?
Dạ không.
Đến một số ga, trẻ con bán rong trèo lên tàu để bán nho khô, đậu gà rang, bánh quy, bánh mì, phô mai, hạnh nhân và kẹo cao su giữa hai thành phố; Mevlut nhìn lom lom những món chúng bán rồi cậu ăn gözleme mẹ đã xếp cẩn thận trong giỏ cho cậu.
Thỉnh thoảng cậu thấy những người chăn cừu nhận ra tàu từ xa chạy ù xuống sườn đồi cùng với chó, cậu nghe lũ trẻ chăn cừu kêu báo! để đóng gói thuốc điếu và thuốc lá lậu, và con tàu phóng ngang qua chúng cho Mevlut một cảm giác kiêu hãnh kỳ lạ. Rồi đoàn tàu đi Istanbul dừng giữa thảo nguyên, và Mevlut nhớ ra thế giới có thể bình yên biết bao. Trong cảnh im ắng đó, những khoảng chờ có vẻ không bao giờ dứt, Mevlut thấy qua cửa kính toa tàu đàn bà hái cà chua trong vườn rau một túp nhà trong làng, gà mái đi túc tắc dọc đường ray, hai con lừa cạ nhau gần máy bơm nước, một người đàn ông râu quai nón ngủ trên cỏ xa hơn một chút.
Khi nào mình chạy lại ba? cậu hỏi trong một lần chờ dài lê thê. Kiên nhẫn đi con, Istanbul có chạy đi đâu mà.
A, mình chạy lại rồi kìa.
Không phải mình, đó là tàu bên cạnh, cha cậu cười mà đáp. Suốt hành trình, Mevlut cố hình dung họ đang ở đâu trên bản đồ Thổ Nhĩ Kỳ tô điểm bằng chân dung Atatürk và quốc kỳ, dán ngay sau thầy mà cậu thấy trước mắt trong năm năm học ở làng. Trước khi tàu tới İzmit thì cậu ngủ thiếp đi và đến khi vào nhà ga Haydarpaşa mới mở mắt ra lại.
Vì bao nhiêu là hành lý, bao bị và giỏ xách nặng, mất cả giờ hai cha con mới xuống hết các bậc thang nhà ga Haydarpaşa và bắt phà đi Karaköy. Đó là lần đầu tiên Mevlut thấy biển, trong bóng tối nhập nhoạng chiều hôm. Biển âm u như giấc mơ và cũng sâu thẳm như giấc ngủ. Có mùi tảo ngọt ngào trong làn gió mát. Bờ bên Âu châu rực rỡ ánh đèn. Cái suốt đời Mevlut không bao giờ quên lần đầu nhìn thấy không phải biển mà là những ánh đèn này. Khi tới bờ châu Âu, vì các túi đồ nặng kềnh càng nên hai cha con không được lên xe bus thành phố, họ phải cuốc bộ và mất bốn tiếng đồng hồ mới về đến nhà đằng sau Zincirlikuyu.
Đọc Xa lạ trong tôi
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 01 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 02 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 03 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 04 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 05 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 06 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 07 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 08 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 09 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 10 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 11 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 12 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 13 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 14 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 15 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 16 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 17 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 18 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 19 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 20 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 21 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 22 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 23 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 24 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 25 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 26 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 27 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 28 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 29 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 30 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 31 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 32 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 33 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 34 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 35 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 36 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 37 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 38 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 39 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 40 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 41 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 42 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 43 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 44 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 45 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 46 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 47 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 48 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 49 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 50 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 51 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 52 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 53 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 54 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 55 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 56 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 57 tại đây.

- thu-vien (1213)
- van-hoc (1244)
- van-hoc-nuoc-ngoai (149)
- tieu-thuyet (57)
- orhan-pamuk (58)
- xa-la-trong-toi (57)
xa-la-trong-toi-chuong-03 (1)
xa-la-trong-toi-03 (1)