Xa lạ trong tôi chương 31 kể cuộc đời người bán boza Mevlut Karataş và bức tranh Istanbul từ 1969 đến 2012 qua nhiều nhân vật. Tác phẩm của nhà văn đạt giả Noel Văn học 2009 Orhan Pamuk.
Đọc Xa lạ trong tôi chương 31
Cát bụi thành phố.
Lạy Allah, nhưng bụi bẩn này ở đâu ra vậy?
Samiha. Vì sợ cái người khác nói, và cho rằng đây là chuyện riêng tư, Ferhat cắt bớt những đoạn đẹp nhất trong câu chuyện của chúng tôi. Chúng tôi có một đám cưới nhỏ thật, nhưng đó là một đám cưới đẹp. Chúng tôi thuê một bộ váy cho tôi ở tiệm áo cưới Công Chúa Trinh Bạch nằm trên tầng hai tòa nhà xanh ở Gaziosmanpaşa. Cả buổi tối tôi không mắc lỗi và không nhượng bộ trước đám đàn bà xấu xí ganh ghét nói thẳng với tôi, Ôi em ơi, em xinh đẹp, thật tiếc cho em! hay người không thẳng thắn như vậy nhưng liếc nhìn tôi dò hỏi như nói Em xinh đẹp như vậy sao lại đi cưới một phục vụ nghèo kiết! Nhìn tôi đây: tôi không phải nô lệ, thê thiếp hay tù nhân của ai… Nhìn tôi đây: các người sẽ hiểu tự do là gì. Đêm đó Ferhat say rakı uống lén dưới bàn đến nỗi cuối cùng tôi phải đưa anh về nhà. Tôi ngẩng cao đầu nhìn lại đám đàn bà ghen tị và đàn ông ngưỡng mộ (trong số đó có lẫn người thất nghiệp và đám lông bông đến uống nước chanh và ăn bánh quy miễn phí).
Hai tháng sau, vợ chồng hàng xóm Haydar và Zeliha ghé thăm chúng tôi và thuyết phục tôi đi làm giúp việc trong tòa nhà ở Gaziosmanpaşa. Thỉnh thoảng Ferhat uống với Haydar, hai vợ chồng cũng đến dự đám cưới chúng tôi. Họ khuyên tôi đi làm là vì muốn tốt cho chúng tôi. Mới đầu Ferhat phản đối, vì xấu hổ làm người chồng để cô gái anh bắt cóc đi làm khi cưới nhau mới được hai tháng. Nhưng rồi một sáng trời mưa, tất cả chúng tôi cùng đi xe đò xuống Gaziosmanpaşa. Ferhat đi cùng chúng tôi đến gặp người gác cổng tòa căn hộ Civan nơi Zeliha và bà con chị làm việc. Trong căn hộ dưới tầng hầm của người gác cổng còn nhỏ chật hơn nhà tạm một phòng của vợ chồng tôi và không có lấy một cửa sổ, sáu người chúng tôi chen chúc, ba đàn ông và ba đàn bà, uống trà hút thuốc. Rồi Zeliha dẫn tôi lên căn hộ số 5 để làm việc. Khi lên cầu thang, tôi rụt rè vì sắp bước vào nhà người lạ và tôi sợ xa Ferhat. Từ khi trốn đi, chúng tôi không rời nhau nửa bước. Mấy hôm đầu, sáng nào Ferhat cũng đi cùng tôi đến chỗ làm, buổi chiều anh ngồi hút thuốc trong căn hộ người gác cổng chờ tôi, lúc bốn giờ, khi tôi ra khỏi căn hộ số 5 và xuống phòng bức bí tầng hầm, hoặc anh dẫn tôi đến tận xe bus, hoặc anh giao tôi lại cho Zeliha, cho chắc là tôi đã lên xe đò, rồi anh chạy vội đến quán ăn Mürüvvet. Nhưng được ba tuần thì tôi bắt đầu đi một mình, đầu tiên là buổi sáng rồi, khi mùa đông đến, cả buổi tối.
Ferhat. Tôi sẽ xen vào một phút vì tôi không muốn các bạn có những ý niệm sai về tôi: tôi là người cần cù có danh dự và biết trách nhiệm của mình, tôi không đời nào để vợ ra ngoài đi làm. Nhưng Samiha cứ than ở nhà buồn chán và cô muốn làm việc; cô giấu các bạn, nhưng cô khóc nhiều. Hơn nữa, Haydar và Zeliha đã thành gần như người nhà, họ cũng có bà con làm trong tòa nhà Civan. Vì lẽ Samiha nói, Giờ em biết tự xoay xở rồi, anh cứ lo học khóa đại học trên tivi đi! tôi cho phép cô đi làm một mình. Nhưng tôi càng thấy có lỗi những khi tôi không tài nào nhét vào đầu bài giảng kế toán trên truyền hình hay không nộp đúng hạn các bài tập hàm thụ qua bưu điện đến Ankara. Lúc này, tôi hầu như không theo kịp mấy con số ghi trên bảng của giáo sư toán có mấy cọng lông bạc thò ra mũi và tai to lồ lộ trên màn hình. Tôi chịu cực hình này là vì Samiha tin còn hơn tôi rằng ngày nào tôi lấy được bằng đại học và tìm một việc công chức nhà nước, hoàn cảnh của chúng tôi sẽ khác hẳn.
Samiha.
Bà chủ đầu tiên của tôi ở căn số 5 mà Zeliha giới thiệu là một người đàn bà buồn phiền và nóng nảy. Hai người trông không giống nhau lắm, bà nói mà nghi ngờ nhìn hai chúng tôi. Như chúng tôi đã thỏa thuận trước, tôi nói rằng Zeliha và tôi có bà con bên phía cha chị, để bà tin. Bà Nalan cũng tin thiện chí của tôi, nhưng thời gian đầu bà không làm sao tin tôi có khả năng lau chùi và quét bụi. Cho đến bốn năm trước, chính bà lo việc này, dù sao bà cũng không có nhiều tiền lắm. Nhưng khi thằng con trai đầu của bà lúc đó là học sinh cấp hai bị ung thư mang đi bốn năm trước, bà Nalan tuyên chiến không khoan nhượng với vi trùng và bụi.
Em đã lau kỹ dưới tủ lạnh, bên trong cái đèn trắng chưa? bà hỏi dù vừa mới thấy tôi làm. Vì chúng tôi sợ thằng con thứ hai của bà cũng mắc ung thư do bụi, đến giờ nó sắp đi học về là tôi hốt hoảng, tôi nhiệt tình hơn nữa, tôi cứ đều đều chạy đến cửa sổ để giữ giẻ lau bụi ra ngoài, hùng hổ như người hành hương làm tròn nghi lễ ném đá Satan. Giỏi lắm, giỏi lắm Samiha! bà Nalan khích lệ tôi. Vừa nói chuyện điện thoại bà vừa đưa ngón tay chỉ một đốm bụi tôi bỏ sót. Lạy thánh Allah, nhưng bụi bẩn này ở đâu ra vậy! bà tuyệt vọng kêu lên. Vì lẽ bà chỉ ngón tay về phía tôi, tôi cảm thấy hơi có lỗi, như thể bụi là từ người tôi hay từ phường ổ chuột của tôi, nhưng tôi vẫn rất quý bà.
Được hai tháng thì bà Nalan tin tưởng tôi và kêu tôi làm ba ngày mỗi tuần. Từ nay bà thường để tôi một mình ở nhà với xà phòng đen, xô và giẻ còn bà đi chợ hay chơi rummy ở nhà bạn bè mà bà lúc nào cũng tán gẫu trên điện thoại. Thỉnh thoảng, với cớ quên gì đó, bà quay về im khe và, thấy tôi luôn loay hoay quét bụi, bà vui mừng nói, Giỏi lắm, thánh Allah phù hộ cho em!
Đôi lúc, bà cứ xoa xoa cái khung bạc lồng chân dung thằng con đã chết để trên tivi bên cạnh con chó bằng sành, bà bật khóc, vậy là tôi buông giẻ lau xuống đến an ủi bà.
Một hôm, bà Nalan ra khỏi nhà được ít lâu thì Zeliha đến thăm tôi. Thấy tôi làm luôn tay, chị kêu lên, Em điên à? rồi bật tivi và ngồi xem, nhưng tôi tiếp tục làm. Sau đó, mỗi lần chủ chị ra khỏi nhà (bà thuê chị và bà Nalan thỉnh thoảng đi chung), Zeliha đến tìm tôi. Trong khi tôi lau bụi, chị kể tôi nghe cái chị thấy trên tivi, chị lục tủ lạnh và nhấm nháp cái gì đó, chị nói rau bi na trộn dầu ô liu ngon nhưng sữa chua (mua trong hũ thủy tinh ở tiệm tạp hóa) đã ôi. Khi Zeliha bắt đầu mò qua tủ của bà Nalan, bình luận về quần lót, áo ngực, khăn tay và các món khác chúng tôi không thực sự hiểu là gì, tôi không nhịn được mà theo chị để cười đùa. Dưới đáy một ngăn kéo của bà Nalan, giữa những khăn quàng và khăn lụa trùm đầu, có một miếng bùa hình tam giác để cầu xin giàu sang thịnh vượng. Trong một góc bí mật khác, giữa những giấy tờ tùy thân cũ, tờ khai thuế và hình chụp, chúng tôi phát hiện một hộp gỗ đẽo khắc có mùi rất thơm, nhưng chúng tôi không đoán được nó dùng để làm gì. Trên bàn đầu giường, giữa những hộp thuốc và lọ siro ho của chồng bà Nalan, Zeliha tìm thấy một lọ đựng thứ chất lỏng lạ lùng màu thuốc lá. Cái lọ màu hồng trên nhăn có hình một phụ nữ Ả Rập có đôi môi mọng, nhưng cái chúng tôi thích nhất là mùi tỏa ra từ cái lọ (có lẽ một thứ thuốc, chắc là thuốc độc, như Zeliha nói), nhưng chúng tôi sợ nên không đổ ra tay. Một tháng sau, khi tôi lục lọi một mình các xó xỉnh trong nhà (tôi rất thích xem hình chụp và bài tập cũ của thằng con đã chết của bà Nalan), tôi nhận thấy cái lọ không còn ở chỗ cũ nữa.
Hai tuần sau, bà Nalan gọi riêng tôi ra. Bà nói với tôi rằng, theo yêu cầu của chồng (chồng ai tôi không hiểu), Zeliha đã bị đuổi việc và, trong tình thế này, dẫu cho bà biết rõ tôi không có lỗi, bà vẫn tiếc là không thể giữ tôi. Tôi không thật sự hiểu đầu đuôi câu chuyện, nhưng khi bà bật khóc thì tôi cũng khóc theo. Đừng khóc, em à, chúng tôi đã nghĩ ra một cái tốt đẹp cho em! bà tuyên bố với cái lạc quan của dân Di gan tiên đoán Hậu vận của cô rất sáng sủa!. Một nhà rất giàu và rất lịch sự ở Şişli đang tìm một chị giúp việc chăm chỉ, trung thực và đáng tin cậy như tôi. Bà Nalan sẽ giới thiệu tôi tới đó còn tôi thì phải chấp nhận ngay không bàn cãi.
Không phải tôi mà Ferhat phản đối, vì chỗ này quá xa. Sáng ra, tôi dậy còn sớm hơn trước, trước khi ngày lên, để đón chuyến xe bus đầu tiên đi Gaziosmanpaşa. Ở đó tôi phải chờ thêm nửa giờ để bắt xe bus đi Taksim. Trong lộ trình mất hơn một giờ này, thiên hạ chen lấn tranh giành khi lên để tìm được một chỗ ngồi trong xe bus thường chật ních. Qua cửa sổ xe, tôi nhìn thiên hạ đi làm, người bán rong đẩy xe đến các phường, tàu bè trên Sừng Vàng và nhất là trẻ con đi học. Tôi cố đọc ra các tít báo dán trên kính tiệm tạp hóa, bảng quảng cáo to, áp phích trên tường. Tôi lơ đãng đọc những câu có ý nghĩa người ta dán trên xe ô tô và xe tải rồi có cảm giác như thành phố nói chuyện với tôi. Tôi thấy dễ chịu nghĩ rằng Ferhat đã trải qua thời thơ ấu ở Karaköy, ngay giữa lòng thành phố, nên về nhà tôi thường đòi anh kể tôi nghe về giai đoạn này. Nhưng buổi tối anh về khuya và chúng tôi ngày càng ít gặp nhau.
Đến Taksim, tôi mua một simit chỗ người bán rong đứng trước bưu điện rồi mới lên một xe bus khác, rồi hoặc tôi vừa ăn trong lúc đi đường vừa nhìn ra cửa sổ, hoặc tôi bỏ nó trong túi nhựa để ăn ở nhà tôi tới làm, với tách trà mới hãm. Nếu chưa ăn thì ăn sáng đi, thỉnh thoảng bà chủ nhà nói. Tôi ăn chút phô mai và ô liu trong tủ lạnh. Lúc khác, bà không nói gì cả. Buổi trưa, trong khi tôi nướng köfte trên vỉ cho bà chủ, bà nói, Làm thêm ba miếng cho em nữa, Samiha. Bà dọn ra năm cái nhưng chỉ ăn bốn và, trong bếp, tôi ăn köfte còn lại trong dĩa bà, vậy là mỗi người ăn bốn cái.
Nhưng bà chủ (tôi gọi bà vậy mà không gọi tên) không ngồi cùng bàn với tôi, và khi bà ăn tôi không được ăn. Bà muốn tôi đứng cách một quãng để nghe khi bà nói, Muối đâu, tiêu đâu; đến dọn cái này đi, tôi đứng ở cửa phòng ăn nhìn bà ăn, nhưng bà không nói chuyện với tôi. Thi thoảng, bà hỏi tôi một câu, lúc nào cũng một câu và cứ quên câu trả lời, Em gốc người ở đâu? Khi tôi trả lời, Beyşehir thì bà hỏi, Đó là đâu? Tôi chưa bao giờ đến, tôi bèn nói, Tôi gốc Konya.
À phải rồi, ngày nào đó tôi cũng đi Konya, để viếng mộ Mevlana, bà nói. Sau đó, trong hai nhà khác ở Şişli và Nişantaşı, khi tôi vừa nói Konya, họ hỏi tôi về Mevlana, nhưng họ không bao giờ chấp nhận thấy tôi cầu nguyện. Zeliha khuyên tôi luôn trả lời là không nếu thiên hạ hỏi, Cô có cầu nguyện không?
Trong những nhà mà bà chủ giới thiệu tôi đến, họ không cho tôi dùng chung nhà vệ sinh. Trong mọi tòa nhà cũ này luôn có nhà vệ sinh dành riêng cho gia nhân, khi thì tôi dùng chung với một con mèo, khi thì với con chó, tôi để túi xách và áo khoác ở đó. Bà chủ có một con mèo lúc nào cũng ngồi trên lòng bà và ăn vụng trong bếp, nên khi chỉ còn tôi với nó một mình ở nhà, tôi đánh nó và tối về tôi thú tội với Ferhat.
Có thời gian bà chủ ngã bệnh và vài tối tôi ở lại nhà bà ở Şişli, nếu không bà sẽ tìm người khác. Tôi được cho một phòng nhỏ khá sạch chung vách với sân trong, không có cửa sổ nhưng tôi có chăn mền mùi dễ chịu nên tôi thích. Rồi chuyện này thành lệ. Đến Şişli rồi về làm tôi mất bốn năm tiếng mỗi ngày, nên một số tối tôi ở lại nhà bà chủ, tôi dọn bữa sáng cho bà rồi đi làm ở các nhà khác. Nhưng thật ra tôi luôn nóng lòng về Gazi với Ferhat, chỉ một ngày thôi là tôi đã thấy nhớ nhà và thế giới của chúng tôi. Tôi thích kết thúc việc buổi chiều sớm và đi dạo trong thành phố mà không nhảy ngay lên xe bus hay đổi xe về Taksim, nhưng tôi cũng sợ có ai ở Duttepe thấy tôi ngoài đường rồi báo cho Süleyman.
Khi các bà chủ ra ngoài và để tôi một mình ở nhà họ nói, Samiha, xong việc thì về nhà ngay đi, đừng phí thời gian cầu nguyện và xem tivi. Có lúc, tôi làm hùng hục như muốn quét cả bụi thành phố, nhưng rồi đầu óc tôi lại lan man và tôi làm chậm đi. Dưới đáy ngăn kéo cuối cùng tủ xếp sơ mi và may ô của ông chủ, trong một tạp chí tiếng nước ngoài, tôi thấy những bức hình đàn ông đàn bà trong tư thế tục tĩu đến mức chỉ thấy thôi tôi cũng đã ngượng chín. Trong tủ thuốc của bà chủ, bên trái, dưới một cái lược trong cái hộp lạ lùng có mùi hạnh nhân đắng, có một tờ tiền nước ngoài. Tôi thích xem album gia đình, hình đám cưới cũ, trường hay kỳ nghỉ hè chồng chất trong một ngăn kéo và biết ra người trong nhà nơi tôi làm việc thời trẻ thế nào.
Trong mỗi nhà tôi làm việc có một đống tạp chí cũ bụi bặm, chai không, hộp chưa bao giờ mở, xếp xó rồi bị lãng quên và người ta dặn tôi đừng động vào, như thể đó là thánh tích. Mỗi nhà đều có những nơi cấm mà trí tò mò xui tôi thám hiểm khi không có ai, nhưng tôi không động đến những tờ tiền mới toanh, đồng tiền vàng cumhuriyet, xà phòng có mùi lạ lùng, hộp trang trí họ để sờ sờ để thử tôi. Thằng nhỏ con bà chủ có bộ sưu tập lính nhựa xíu xiu, nó dàn trận ra trên giường, trên thảm. Tôi thích thấy nó mải mê chơi và quên mọi thứ, và khi một mình tôi cũng chơi với lính. Nhiều gia đình mua báo để lấy coupon và, mỗi tuần họ giao cho tôi cắt ra. Mỗi tháng một lần họ kêu tôi cầm mấy coupon này đến chỗ người bán báo ở góc đường, và tôi phải xếp hàng cả nửa ngày để đổi các món quà như ấm trà bằng men, sách nấu ăn có hình, vỏ gối in hoa, máy vắt cam, bút bi có nhạc.
Trong tủ có mùi băng phiến xếp đồ len của bà chủ, bà thì cả ngày tán gẫu trên điện thoại, có một món đồ điện gia dụng, nhưng cũng như các món quà, bà không bao giờ lấy nó ra dùng, ngay cả khi nhà có khách, bà cất nó cẩn thận vì suy cho cùng nó là đồ châu Âu nhập khẩu. Thỉnh thoảng tôi xem các hóa đơn, mẩu báo, tờ rơi trong phong bì nhét dưới đáy tủ, những gì được ghi trên áo quần con gái, đồ lót, ghi chép trong sổ tay, như thể tôi tìm kiếm gì đó và sắp sửa tìm ra. Thỉnh thoảng, tôi tưởng chừng như những lá thư này, những chữ này gửi cho tôi, và tôi cũng có mặt trong những tấm hình này. Hay tôi thấy như mình phải chịu trách nhiệm nếu thằng con của bà chủ lén lấy cây son đỏ của bà và bỏ trong ngăn kéo của nó, và tôi vừa thấy gắn bó tận tụy nhưng cũng giận những người này phơi bày đời riêng cho tôi thấy.
Nhiều lúc, mới giữa ngày tôi đã thấy nhớ Ferhat, mái nhà chúng tôi, hình ảnh mảnh đất lân tinh nằm trong giường nhìn ra là thấy. Đi làm giúp việc được hai năm, khi tôi phải thường xuyên ngủ lại hơn, tôi đâm giận Ferhat là không thể kéo tôi ra khỏi đó, khỏi đời sống của các gia đình mà tôi ngày càng dính líu nhiều hơn, những thằng nhỏ tàn bạo và những con bé hư đốn, những thằng phụ việc tiệm tạp hóa và con trai người gác cổng tán tỉnh tôi vì tôi đẹp, những phòng nhỏ chật chội cho gia nhân nơi tôi thức giấc đầm đìa mồ hôi nếu lò sưởi bật.
Ferhat. Làm trong quán Mürüvvet ở Gaziosmanpaşa được một năm thì họ xếp tôi làm thu ngân. Chuyện này phần nào là nhờ các khóa đại học Samiha khuyến khích tôi, dù chỉ là hàm thụ và trên tivi. Tuy vậy, buổi tối, khi mùi soup và rakı dễ chịu váng vất và quán bắt đầu ồn ào đông đúc, anh của ông chủ ngồi vào quầy thu ngân và điều hành công việc… Ông chủ, còn mở một quán khác ở Aksaray (chúng tôi là một chi nhánh), có một quy định nhắc lại mỗi tháng một lần cho toàn bộ nhân viên, từ đầu bếp cho đến người rửa bát, từ phụ việc cho đến phục vụ, là mỗi đĩa khoai tây chiên, mỗi đĩa salad cà chua, mỗi đĩa köfte, cơm gà, mỗi ly rakı, mỗi cốc bia, mỗi phần soup đậu lăng, mỗi phần thịt đậu trắng, mỗi phần thịt cừu trong bếp mang ra đều bắt buộc qua quầy thu ngân để ghi lại rồi mới dọn ra bàn cho khách.
Quán Mürüvvet là một nơi có tiếng, với bốn khung cửa kính lớn (tất cả đều thả màn voan) nhìn ra đại lộ Atatürk cùng một lượng khách hàng đông đảo và nhiệt tình (thợ thủ công và chủ quán không uống rượu vào buổi trưa và, buổi tối, những bàn toàn đàn ông uống rakı có chừng mực), không dễ mà tuân theo quy định ông chủ đặt ra… Ngay cả vào giờ ăn trưa đến phiên tôi ngồi ở quầy, quán đông đến mức không phải lúc nào tôi cũng ghi kịp những đĩa gà rau củ, cần tây dầu ô liu, đậu răng ngựa nghiền, cá ngừ đút lò phục vụ mang đến là của bàn nào. Họ đứng xếp hàng dài chờ trước quầy thu ngân như ông chủ dặn (thực khách sốt ruột kêu, Đồ ăn nguội ngắt rồi!), hoặc, hoãn lại dặn dò của ông chủ ít phút, họ đem món ra bàn rồi thấy tôi rảnh tay một chút, khi đi ngang họ đọc món cho tôi, Anh Ferhat, ớt nhồi và börek bàn 17, hai món đông hạnh nhân bàn 16. Nhưng vấn đề xếp hàng vẫn còn, vì phục vụ thay vì chờ đến lượt thì tất cả kêu một lúc, Một xà lách bàn 6, hai cacık bàn 8. Vì một số vừa nói vừa tay bưng đĩa chạy, thu ngân không làm sao ghi lại hết, nhiều lúc họ quên, hay như tôi, có lúc tôi bịa ra hay bỏ hẳn, giống như khi tôi không theo kịp bài giảng trên tivi. Phục vụ không bao giờ càm ràm về một số món bỏ sót vì biết nếu tiền hóa đơn ít, họ sẽ kiếm được nhiều tiền típ hơn. Còn ông chủ muốn chúng tôi làm theo quy định không phải vì sợ mất tiền cho bằng để tránh cãi nhau với khách chếnh choáng gào lên, Bọn này chỉ gọi một thố vẹm, không phải hai.
Tôi làm phục vụ ca tối nên tôi biết mọi mánh lới mà phục vụ thiếu trung thực dùng rồi để ý khi làm thu ngân buổi trưa. Một trong những mẹo đơn giản nhất thỉnh thoảng tôi cũng dùng là phục vụ một khách quen một phần rưỡi, nghĩa là sáu köfte, ghi trên hóa đơn tính tiền chỉ một phần, rất thân ái nói cho họ biết và như vậy có được nhiều tiền típ hơn. Trong quán ăn Mürüvvet, toàn bộ tiền tips thu được phải bỏ trong một hộp rồi chia đồng đều (ông chủ lấy đầu tiên), nhưng trên thực tế thì không phục vụ nào bỏ hết tiền típ vào hộp, ai cũng giấu bớt một phần trong túi quần bên kia hay tạp dề. Tuy vậy chuyện này không gây ra cãi cọ hay tố
giác nào: vì lẽ người lấy có nguy cơ bị đuổi việc và ai cũng biết điều đó, không thằng nào chõ mũi vào túi đứa khác.
Buổi tối, tôi phụ trách các bàn ở lối vào, và một trách nhiệm nữa là làm phụ tá cho ông chủ. Không phải quản lý mà đúng hơn là trưởng thanh tra: Đi kiểm xem mấy thố của bàn 4 xong chưa, người ta càu nhàu kìa, ông chủ nói và mặc dù phục vụ phụ trách bàn 4 là Hadi dân Gümüşhane, tôi vào bếp và, thấy đầu bếp lề mề chìm trong khói mỡ thịt trên vỉ nướng, tôi quay lại bàn số 4, rồi với vẻ duyên dáng, tươi cười, tôi giải thích là thố sắp xong, là tôi có thể hỏi họ muốn nướng vừa hay để thêm chút, họ dùng không gia vị hay cho tỏi, hoặc là, nghe họ thích đội bóng đá nào hơn, tôi chen vào cuộc thảo luận bóng đá ở bàn, nói là có các mánh khóe hại đội chúng tôi, là trọng tài đã bị mua và hôm Chủ nhật các quả phạt đền của chúng tôi không được tính.
Khi tên đần Hadi lại chọc giận một bàn vì đưa đồ ăn lên chậm hay lộn món, tôi vào bếp lấy một đĩa đầy khoai tây chiên hay một thố to tôm búng lách tách trong dầu có lẽ dành cho bàn khác, nói là quán mời. Có lúc, tôi mang cho khách chếnh choáng một phần to thịt nướng đủ loại chưa có người nhận dù không ai trong họ gọi, tôi trịnh trọng đặt nó xuống, cẩn thận nói, Món nướng cuối cùng cũng có rồi đây, và tôi ghi vào hóa đơn cho họ.
Đám say mải mê thảo luận bóng đá, chính trị và chi phí sinh hoạt nên không phản đối gì. Về khuya, tôi can thiệp để tách những người choảng nhau, để làm dịu nhiệt tình của những kẻ hát bè và làm cả quán khó chịu, để giải quyết bất đồng giữa những người muốn mở cửa sổ và những người muốn đóng, mở hoặc tắt tivi, tôi mắng mỏ các phụ việc chưa đổ gạt tàn ngập mẩu thuốc lá (Anh kia, nhìn bàn số 12 chút đi, lẹ, lẹ…), và, nhìn một cái, tôi đuổi về vị trí những phục vụ và người rửa bát tôi bắt gặp trốn trong bếp, hành lang, cửa và trong kho đằng sau để hút thuốc.
Thỉnh thoảng, các ông chủ văn phòng luật sư và kiến trúc xung quanh dẫn nhân viên đi ăn trưa, có cả phụ nữ, hay một người mẹ trùm khăn muốn cho mấy thằng con ăn köfte và uống ayran, tôi tức thì xếp họ ngồi vào các bàn dành cho gia đình gần cửa. Tham vọng lớn của ông chủ chúng tôi, ông treo trên tường ba tấm hình Atatürk, một tươi cười và hai có cái nhìn nghiêm khắc và mặc thường phục, là quán Mürüvvet cũng có khách nữ.
Một phụ nữ được yên ổn ngồi ở bàn với đàn ông, nhất là trong các bữa tối có phục vụ rakı, bà có thể thưởng thức một buổi tối mà không phải chịu lời lẽ bóng gió, không cãi cọ, và lại đến nữa là một sự kiện lớn trong mắt ông chủ, nhưng tiếc là trong lịch sử biến động của Mürüvvet, điều này chưa từng có. Một khách nữ hôm nay đến quán, và ngày mai lại, ông chủ bực tức và không vui, bắt chước cách khách nam trong quán nhìn bà như lũ bò nhìn tàu đi qua, và với phục vụ chúng tôi, ông yêu cầu lần sau một khách nữ đến thì không được hốt hoảng,
không bu quanh bà như ruồi, làm như đó là cái gì hết sức bình thường, lịch sự ngăn đàn ông ăn to nói lớn ở các bàn khác, và bảo vệ bà này trước cái nhìn khó chịu của đám bò đực. Mệnh lệnh sau cùng này vẫn là khó áp dụng nhất.
Đến khuya, khi những khách say sau cùng không biết khi nào mới chịu đứng lên, ông chủ nói tôi, Đi, cậu đi đi, cậu còn đường dài phải về. Trên đường về, tôi nghĩ đến Samiha với nỗi u hoài và cảm giác có lỗi, tôi thấy để cô làm giúp việc là một sai lầm. Có những sáng thức dậy tôi thấy là cô đã đi làm từ lâu, tôi tiếc, tôi giận mình đã cho phép cô đi làm, tôi nguyền rủa cái nghèo của mình. Những buổi chiều, trong khi người rửa bát và hai thằng phụ việc, cả ba ở chung chỗ trọ, lột đậu trắng và gọt vỏ khoai tây vừa nói vừa cười với nhau, tôi đến ngồi bàn trong góc, mở tivi trước mặt cố theo dõi chương trình kế toán hàm thụ. Thỉnh thoảng, tôi hiểu bài học nhưng tôi không biết ghi gì trong ô trống bài tập gửi trong phong bì, tôi đứng lên, bước ra khỏi Mürüvvet như người mộng du, và trong khi rảo bước trên các phố Taşlıtarla, giận dữ và tuyệt vọng, tôi hình dung mình chĩa súng cướp taxi như trong phim, lái đến Şişli tìm Samiha, bắt cóc cô khỏi nhà cô làm và chở cô đến một nơi ở mới trong một phường khác ở ngoại ô xa. Trong mơ, căn nhà này giống với căn nhà có bốn cửa lớn và mười hai phòng tôi sẽ xây bằng tiền dành dụm được, trên mảnh đất tôi đã vạch ranh bằng đá lân tinh và chúng tôi thấy từ nhà mình, qua cửa sổ sau. Nhưng khi toàn bộ nhân viên, từ người rửa bát cho đến quản lý, tập trung lúc năm giờ chiều quanh nồi soup rau củ, khoai tây và thịt đặt giữa bàn dài sau quán ăn, và chúng tôi ăn soup với bánh mì mới trước khi mặc đồng phục phục vụ thanh lịch vào và làm việc, tôi bắt đầu chua chát nghĩ mình mất hết đời trong chốn hẻo lánh này để làm gì trong khi có khả năng tạo ra việc làm ăn riêng trong trung tâm thành phố. Những tối Samiha sẽ về nhà, thấy tôi nóng lòng rời Mürüvvet về sớm, ông chủ nói, Đi đi, cởi tạp dề và về nhà đi, ông chồng trẻ. Tôi biết ơn lòng tốt của ông. Samiha có đến quán vài lần, nên các phục vụ khác, phụ việc, người rửa bát, tất cả đều đã thấy cô đẹp thế nào, và theo cách họ cười khi gọi tôi là ông chồng trẻ, tôi cảm thấy họ ganh với may mắn của tôi và khi xe bus đi Gazi chưa đến (những tuyến đầu tiên đến tận phường chúng tôi đã bắt đầu hoạt động), tôi nguyền rủa mình không tận dụng được may mắn này, tôi thất vọng và sợ mình đã phạm sai lầm.
Xe bus về phường Gazi chạy rất chậm, rề rà ở nhiều bến đến mức tôi ngọ ngoạy hai chân trên ghế. Khi, đến một trạm gần chót, có người trong tối kêu lên, Bác tài, bác tài, chờ với! để không lỡ xe bus, bác tài đốt điếu thuốc, xe bus chờ, vậy là, sốt ruột, tôi đứng lên luôn. Quên hết mệt mỏi, tôi phóng từ bến cuối lên tận nhà trên sườn đồi. Cảnh vắng lặng của đêm đen, những ánh đèn tù mù của các nhà khu ổ chuột xa xa, khói than nâu hôi khét tỏa ra từ vài ống khói, tất cả đã thành dấu hiệu nhắc tôi rằng Samiha đang chờ ở nhà. Vì hôm nay là thứ Tư, chắc chắn cô ở nhà. Có lẽ như mọi khi, cô đi nằm rồi mệt quá ngủ quên. Tôi nghĩ về cô, rất đẹp khi cô ngủ. Có lẽ, như thỉnh thoảng cô làm, cô đã chuẩn bị thuốc sắc lá cây đoạn cho tôi, cô bật tivi xem và chờ tôi.
Tôi nghĩ về sự thông minh và thân ái của cô, tôi cắm đầu chạy. Tôi có niềm tin rằng nếu tôi chạy, Samiha nhất định sẽ có ở nhà. Nếu cô không có ở nhà, tôi liền nốc một ly rakı để xoa dịu nỗi đau và giận dữ, tôi tự trách mình. Tối mai, tôi xoay xở về còn sớm hơn tối trước, trên đường về cũng sốt ruột như mọi khi.
Tha lỗi cho em, Samiha nói khi chúng tôi gặp nhau. Hôm qua, bà chủ có khách… Bà cứ nằn nì em ngủ lại và bà cho em cái này! Tôi cất mấy tờ tiền vợ đưa trong một góc. Từ giờ em sẽ không đi làm nữa, em sẽ không ra khỏi nhà này nữa, tôi tuyên bố. Cả hai vợ chồng mình sẽ không bao giờ ra khỏi nhà nữa, cho đến ngày tận thế.
Nếu vậy thì mình lấy gì ăn? những tháng đầu Samiha nói.
Rồi cô vừa cười vừa nói, Được rồi, em sẽ không đi làm nữa. Tất nhiên là sáng sáng cô lại tiếp tục đi làm.
Đọc Xa lạ trong tôi
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 01 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 02 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 03 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 04 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 05 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 06 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 07 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 08 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 09 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 10 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 11 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 12 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 13 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 14 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 15 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 16 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 17 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 18 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 19 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 20 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 21 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 22 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 23 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 24 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 25 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 26 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 27 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 28 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 29 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 30 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 31 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 32 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 33 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 34 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 35 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 36 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 37 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 38 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 39 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 40 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 41 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 42 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 43 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 44 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 45 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 46 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 47 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 48 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 49 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 50 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 51 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 52 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 53 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 54 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 55 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 56 tại đây.
Đọc Xa lạ trong tôi, chương 57 tại đây.

- thu-vien (1213)
- van-hoc (1244)
- van-hoc-nuoc-ngoai (149)
- tieu-thuyet (57)
- orhan-pamuk (58)
- xa-la-trong-toi (57)
xa-la-trong-toi-chuong-31 (1)
xa-la-trong-toi-31 (1)